Google
 
My visitors : Hit Counter by Digits

2007/06/18

Install multiOS in the virtual-machine - Cài đặt nhiều hệ điều hành trên máy ảo

MÁY ẢO LÀ GÌ?

Bạn là người yêu thích tìm tòi, học hỏi. Bạn muốn khảo nghiệm một hệ điều hành (HĐH) mới mà không muốn làm ảnh hưởng gì tới HĐH đang sử dụng. Bạn có một phần mền thú vị nhưng lại không chạy trên HĐH hiện hành. Bạn muốn cài đặt nhiều HĐH trên một PC một cách đơn giản nhất. Bạn là một lập trình viên và đang mong muốn thử chương trình mình viết trên các nền tảng khác nhau. Ban muốn chạy những ứng dụng mạng trên PC không nối mạng của mình. Bạn có thể làm tất cả những điều trên thông qua việc tạo lập các máy ảo trên một máy tính duy nhất.

Câu hỏi đặt ra là máy ảo (Virtual Machine - VM) là gì? VM là một môi trường phần mềm cho phép một hoặc hơn một HĐH và các ứng dụng của chúng hoạt động song song trên chỉ một máy tính duy nhất. Điếm thú vị là chúng ta có thể chuyển đổi qua lại giữa các HĐH đang chạy chỉ bằng một hoặc hai thao tác mà không phải khởi động lại PC. Đối với các HĐH, không có gì khác biệt giữa VM và PC thật (real computer). Nói một các ngắn gọn, VM chính là một bản sao của PC thật. Gần như, điều gì bạn có thể làm được trên máy thật thì bạn cũng có thể làm được trên VM.

Khi sử dụng VM cho các HĐH khác nhau, bạn cần nắm được một số khái niệm chủ chốt sau:

* Máy ảo (virtual machine - VM): là một PC do phần mềm tạo máy ảo giả lập.

* Máy chủ (host machine): là PC mà trên đó bạn cài phần mềm tạo VM

* Hệ điều hành chủ (host operating system): là hệ điều hành chạy trên máy chủ.

* Hệ điều hành khách (guest operating system): là hệ điều hành chạy trên một VM

Hình1: RH 7.1 (cửa sổ Ctrl-Alt-F1) trong XP

Hình 2: XP trong RH

CÀI ĐẶT PHẦN MỀM TẠO MÁY ẢO

Phần mềm tạo VM mà tôi giới thiệu trong bài viết này là Vmware Workstation 3.0 của hãng Vmware (http://www.vmware.com/). Tất cả các ví dụ dưới đây tiến hành với file cài đặt được tải xuống từ địa chỉ nêu trên. Bạn có thể tìm tới địa chỉ này để tìm hiểu thêm thông tin và tải phần mềm này về. Tuy nhiên, có 3 lưu ý trước khi bạn muốn làm bất cứ điều gì:

  1. VMware Workstation 3.0 có 2 bản: bản cho Windows (12 MB); bản cho Linux (9,23 MB)
  2. Phần mềm này không miễn phí. Bạn phải cung cấp 1 địa chỉ e-mail để nhận được một số đăng ký tạm thời sử dụng phần mềm này trong 30 ngày.
  3. PC của bạn phải đủ mạnh và đĩa cứng phải còn đủ chỗ để cài thêm HĐH.

Theo hãng Vmware, cấu hình tối thiểu để Vmware Workstation 3.0 hoạt động trong Windows XP (XP) và Red Had 7.1 (RH) là:

- CPU: 266 MHz (chỉ hỗ trợ Intel Pentium II, III, 4 và ADM Athlon)

- RAM: 128 MB (phải có đủ RAM để chạy máy chủ cộng thêm số RAM chia cho mỗi HĐH khách)

- Card màn hình: 256 mầu (8 bit). Máy chủ Linux đòi Card màn hình phải được XFree86 hỗ trợ

- Đĩa cứng: 20 MB cho Vmware Workstation và 500 MB cho mỗi HĐH khách

- CD-ROM

Cài đặt VMware Workstation 3.0 trong XP

Bạn cần lưu ý bản Vmware Workstation 3.0 dành cho Windows có thể cài đặt trên hầu hết các HĐH của Microsoft. Trong phần này, tôi xin hướng dẫn các cài đặt phần mền tạo máy ảo này trong môi trường Windows XP.

Sau khi tải file VMwareWorkstation-3.0.0-1455.exe về, bạn đăng nhập để có quyền quản trị hệ thống và từ đó tiến hành cài đặt bình thường như đối với các phần mềm khác.

Bạn có thể chọn OK với hầu hết các thông báo xuất hiện trên màn hình vì bạn hoàn toàn có thể cấu hình lại VmwareWorkstation sau khi quá trình cài đặt hoàn tất. Chỉ có một điểm bạn cần lưu ý là khi thấy xuất hiện một hộp thoại hỏi bạn có muốn đổi tên phần mở rộng của các file chứa đĩa ảo trên máy chủ thành *.vdmk không, thì bạn nên chọn lệnh Search để tìm các file này và nếu tìm thấy thì nên tiến hành các thay đổi như gợi ý. Nếu đã từng cài bản Vmware Workstation 2.0 thì rất có thể bạn không những phải tiến hành thay đổi nêu trên mà còn phải đổi tên file *.std (file lưu giữ tình trạng tạm dừng của VM) thành *.vmss. Những thay đổi như trên là đặc biệt cần thiết để tránh xung đột với tính năng khôi phục hệ thống (System Restore) của XP.

Hình 3: VMware Workstation trong XP

Không giống như nhiều phần mền khác vốn cố thể hoàn tất quá trình cài đặt mà không phải khởi động lại XP, VmwareWorkstation 3.0 đòi hỏi HĐH máy chủ phải được khởi động lại thì quá trình cài đặt mới thành công.

Cài đặt VmwareWorkstation 3.0 trong RH 7.1

Trước khi cài đặt VmwareWorkstation 3.0 trong RH 7.1, bạn cần lưu ý phần mềm này có 2 phiên bản cài đặt dành cho Linux. Bản thứ nhất là VMwareWorkstation-3.0.0-1455.tar.gz và bản thứ 2 là VMwareWorkstation-3.0.0-1455.rpm. Về bản chất, 2 phiên bản này không khác nhau. Chúng chỉ đòi hỏi cách cài đặt khách nhau chút ít. Trong phần này, tôi xin trình bày cách cài đặt với cả 2 phiên bản nêu trên trên máy chủ RH 7.1.

Quá trình cài đặt có thể được tiến hành trong cửa sổ Terminal của môi trường văn bản (Text Mode) hoặc đồ họa (Graphic Mode). Theo tôi, bạn nên cài đặt Vmware Workstation trong môi trường đồ họa Xwindow của GNOME hoặc KDE. Nếu không quen với cách chuyển thư mục trong Terminal của RH, bạn hãy gõ lệnh [mc] để chạy Midnight Commander - một tiện ích tương tự như NC của DOS.

Sau đâu là các bước tiến hành. Các câu lệnh đều không có dấu [ ]:

Hình 4: Cửa sổ Terminal

  1. Từ dấu nhắc trong cửa sổ Terminal, gõ lệnh [su] để đăng nhập vào Root lấy quyền quản trị hệ thống.
  2. Chuyển tới thư mục chứa file cài đặt. Trong trường hợp file này nằm trên đĩa CD thì bạn phải dùng lệnh [mount] để mở ổ CD-ROM (trong Xwindow, chỉ cần nhấn chuột vào biểu tượng ổ CD-ROM).
  3. Nếu cài đặt từ bản RPM thì bạn chỉ cần gõ lệnh sau: [rpm –Uhv VMwareWorkstation-3.0.0-1455.rpm].

Nếu dùng bản TAR.GZ thì bạn nên chép file cài đặt này vào một thư mục tạm trên ổ cứng, giả sử như [/tmp] để quá trình cài đặt thuận tiện hơn. Để chép file từ thư chứa file cài đặt, bạn gõ lệnh [cp VMwareWorkstation-3.0.0-1455.tar.gz /tmp]. Sau đó chuyển tới thư mục [/tmp] bằng lệnh [cd /tmp] để tiến hành giải nén file, Để giải nén, bạn gõ lệnh [tar zxf VMwareWorkstation-3.0.0-1455.tar.gz]. Trong Xwindow, bạn có thể dùng tiện ích Achiver (tương tự như Winzip). Tiếp tục gõ [cd vmware-distrib] để chuyển tới thư mục vừa giải nén. Để bắt đầu cài đặt, bạn gõ [./vmware-install.pl].

Hình 5: Quá trình cài đặt bắt đầu

  1. Sau quá trình này, nếu cài đặt từ bản RPM, bạn phải chạy file [vmware-config.pl] để thiết đặt các cấu hình cần thiết.

Nếu dùng bản TAR.GZ thì bạn không phải thực hiện thao tác trên, vì trình cài đặt đã làm giúp bạn điều này khi bạn trả lời YES từ dấu nhắc trên màn hình.

  1. Từ lúc này trở đi bạn có thể nhận được khá nhiều câu hỏi của trình cài đặt. Theo tôi, bạn nên chấp nhận các giá trị ngầm định mà chương trình gợi ý vì phần lớn trong số chúng có thể được cấu hình lại sau khi cài đặt thành công. Lưu ý bạn có thể bỏ qua các thiết đặt cho máy chủ DHCP bằng cách nhấn phím Spacebar rồi Q.
  2. Khi quá trình cài đặt hoàn tất, một thông báo thành công sẽ xuất hiện trên màn hình. Nếu không nhận được thông báo này, bạn cần phải lặp lại các bước cài đặt như trên đã nêu.

Hình 6: Cài đặt thành công

TẠO MÁY ẢO VÀ CÀI RH TRÊN MÁY CHỦ XP

Tạo máy ảo

Bạn chỉ cần chọn Next với hầu hết các thông báo trên màn hình. Các bước tiến hành tạo VM cụ thể như sau:

  1. Khởi động Vmware Workstation và chọn New Virtual Machine. Nếu đây là lần đầu tiên chạy Vmware Workstation, bạn sẽ được yêu cầu nhập mã số đăng ký (license) mà hãng Vmware cung cấp cho bạn qua e-mail hoặc trên đĩa CD.
  2. Trong hộp thoại New Virtual Machine bạn sẽ có 3 lựa chọn

Typical:Tạo VM với những lựa chọn cấu hình và thiết bị thông thường nhất

Custom: Tạo máy ảo với những lựa chọn cấu hình cụ thể

Vmware Guest OS Kit: Tạo máy ảo chạy HĐH của Microsoft với những tính năng hỗ trợ đặc biệt được cài đặt trước.

Bạn hãy chọn Typical hoặc Custom.

Hình 7: Chọn cấu hình

  1. Chọn HĐH máy khách là Linux.
  2. Chọn tên cho VM và vị trí lưu các file cần thiết của VM.
  3. Phân phối RAM cho máy khách. Nếu lượng RAM không thiếu, bạn nên chấp nhận gợi ý của Vmware Workstation

6. Thiết lập cấu hình mạng cho máy ảo.Sẽ có 4 tùy chọn.

- Use Bridged Networking: cho phép HĐH máy khách truy nhập trực tiếp vào mạng Ethernet

- Use network Address Translation: cho phép HĐH máy khách truy nhập vào mạng cũng như những máy khác trong mạng truy nhập vào máy khách, thông qua máy chủ (dùng địa chỉ IP của máy chủ)

- Use host-only networking : không cho phép làm những việc mà Use network Address Translation cho phép. Máy ảo được nối với máy chủ thông qua một mạng riêng ảo.

- Do not use a network: cho phép tách biệt VM hoàn toàn khỏi máy chủ và mạng

  1. Chọn đĩa “cứng” cho VM. Chương trình giới thiệu 3 lựa chọn

- Create New Virtual Disk: VMWare Workstation sẽ tạo 1 file đĩa ảo trên máy chủ và dùng file này như là đĩa cứng cho máy ảo. Các thông tin lưu trữ trên đĩa cứng của máy ảo trên thực tế sẽ được lưu vào trong file này.

- Use An Existing Virtual Disk: Chọn chế độ này nếu bạn muốn dùng lại 1 đĩa ảo đã có trước

- Use a Physical Disk: Chọn chế độ này để sử dụng một phân vùng đĩa cứng trên máy chủ như là đĩa cứng của VM. Nếu PC của bạn đã được cài 2 HĐH trở lên trên các phân vùng khác nhau, thì chế độ này cho phép bạn không phải khởi động kép nữa.

Bạn chọn Create New Virtual Disk.


8.Chọn dung lượng đĩa cứng cho VM. Dung lượng gợi ý ở đây là dung lượng lớn nhất có thể của đĩa cứng VM. Khi mới được tạo ra, đĩa này rất nhỏ (chỉ vài trăm KB) nhưng nó sẽ nở dần ra khi HĐH khách và các ứng dụng được cài đặt. Chọn Finish để hoàn tất quá trình tạo VM

9. Cài Red Hat 7.1 trên máy chủ Windows XP

Quá trình cài RH trên VM trong môi trường XP nên được tiến hành từ đĩa CD cài đặt của HĐH này. Nói chung các bước tiến hành diễn ra bình thường như khi cài RH trên PC thật. Dưới đây, tôi chỉ đề cập tới những điểm khác biệt:

1. Sau khi tạo VM thành công, bạn đưa đĩa cài đặt RH 7.1 vào ổ CD-ROM và nhấn nút Power on trên thanh công cụ trong cửa sổ chương trình VMware Workstation để khởi động VM.

Hình 8: Khởi động VM

  1. Giống như PC thật, VM sẽ quét tất cả các thiết bị có khả năng khởi động, rồi khởi tạo việc cài đặt RH từ đĩa CD. Bạn nên cài RH ở chế độ Text Mode. Nếu đơn thuần nhấn Enter thì trình cài đặt cũng tự động chuyển về chế độ Text Mode.
  2. Tiến hành cài đặt bình thường dựa trên các chỉ dẫn trên màn hình.

Hình 9: RH đang được cài đặt trên VM trong XP

  1. Khi gặp thông báo về Bảng phân vùng bị hỏng (Bad Partition Table) và đề nghị sửa chữa với những cảnh báo đáng sợ về việc mất dữ liệu thì bạn cứ bình tĩnh. Thực sự không có vấn đề gì nghiêm trọng xảy ra như khi cài trên PC thật. Đơn giản là đĩa ảo cần được định dạng và tạo phân vùng. Bạn nên chọn chế độ tạo phân vùng tự động khi màn hình Automatic Partitioning xuất hiện.

Hình 10: Thông báo về Bảng phân vùng bị hỏng

  1. Chọn Default cho Video Card. Các bước cấu hình cho Xwindows (Xserver) nên được tiến hành nhanh chóng theo các giá trị ngầm định, và không cần phải thử các thiết đặt cho Xwindows. Bạn không phải lo lắng về chế độ đồ họa của GNOME và KDE. VMware Workstation sẽ cung cấp 1 tiện ích mang tên VMware Tools để giúp bạn làm điều này sau.
  2. Sau khi cài đặt kết thúc thành công, VM sẽ khởi động lại và tải HĐH Linux RH (nếu không bạn hãy nhấn nút Power on). Công việc lúc này là cài trình điều khiển (driver) màn hình cho VM. Các bước tiến hành như sau (các lệnh đều không có dấu [ ]:

Hình 11: RH khởi động trên VM

- Chọn Settings - VMware Tools Install trong cửa sổ chương trình VMware Workstation trên nền XP

- Đăng nhập vào hệ thống bằng tên và mật khẩu bạn tạo trong quá trình cài đặt RH. Từ dấu nhắc trong cửa sổ Terminal của VM, gõ lệnh [su] để lấy quyền quản trị hệ thống.

Hình 12: Đăng nhập hệ thống

- Theo ngầm định file cài đặt này được nén và nằm trên ổ CD-ROM ảo của VM. Bạn nên chép nó tới thư mục [/tmp]. Cụ thể, bạn gõ các lệnh sau:

[mount -t iso9660 /dev/cdrom /mnt]: để ổ CD-ROM ảo hoạt động.
[cp /mnt/vmware-linux-tools.tar.gz /tmp]: để chép file tới thư mục [/tmp].
[umount /dev/cdrom]: để ổ CD-ROM ảo tạm dừng hoạt động.

- Tiến hành giải nén và cài đặt. Các câu lệnh như sau:

[cd /tmp]: để chuyển tới thư mục [/tmp].
[tar zxf vmware-linux-tools.tar.gz]: để giải nén file cài đặt.
[cd vmware-linux-tools]: để chuyến tới thư mục lưu các file vừa được giải nén.
[./install.pl]: để chạy file cài đặt VMware Tool

- Tới đây, bạn có thể yên tâm khởi động Xwindow từ câu lệnh [startx] để vào GNOME hoặc KDE.

VMware Tool còn có một số tính năng khác khá thú vị. Bạn có thể tìm hiểu qua bằng việc gõ lệnh [vmware-toolbox &] từ dấu nhắc trong cửa sổ Terminal

TẠO MÁY ẢO VÀ CÀI XP TRÊN MÁY CHỦ RH

Tạo máy ảo

Như trên đã trình bày VM hoạt động với cơ chế giống như một PC thật. Để tiến hành tạo VM, bạn làm như sau:

  1. Gõ lệnh [vmware &] từ dấu nhắc trong cửa sổ Terminal (Bạn không cần đăng nhập vào Root).

Hình 13: Tạo VM trong RH

  1. Nếu đây là lần đầu tiên chạy Vmware Workstation, bạn sẽ được yêu cầu thực hiện 2 điều

Thứ nhất: nhập mã số đăng ký (license) mà hãng Vmware cung cấp cho bạn qua e-mail hoặc trên đĩa CD.

Thứ hai: đổi tên phần mở rộng các file đĩa ảo thành *.vmdk và các file lưu giữ tình trạnh tạm dừng của máy ảo *.std thành *.vmss.

Mặc dù các file này chỉ tồn tại nếu máy bạn đã cài Vmware Workstation 2.0 trước đó. Tuy nhiên bạn nên đồng ý với yêu cầu của chương trình.

  1. Chọn Run the configuration wizard trong hộp thoại Configuration Wizard
  2. Các bước còn lại được tiến hành tương tự như các bước tạo VM trong máy chủ chạy HĐH Windows XP (đã trình bày bên trên). Chỉ có một lưu ý nhỏ là bạn phải lựa chọn cho phép ổ CD-ROM và ổ đĩa mềm hoạt động

Cài Windows XP trên máy chủ Red Hat 7.1

Quá trình cài XP trên VM trong môi trường RH nên được tiến hành từ đĩa CD cài đặt của HĐH này. Nói chung các bước tiến hành diễn ra bình thường như khi cài XP trên PC thật. Dưới đây, tôi chỉ đề cập tới những điểm đáng lưu ý:

  1. Khởi động HĐH chủ RH, gõ [startx] để vào môi trường đồ họa GNOME hoặc KDE
  2. Mở Terminal và gõ lệnh [vmware &] để khởi động VMware Workstation
  3. Đưa đĩa cài đặt XP vào ổ CD-ROM, rồi nhấn nút Power on trên thanh công cụ của VMware Workstation
  4. Các bước cài đặt XP trên VM từ ổ CD-ROM diễn ra bình thường như trên PC thật. Bạn không phải bận tâm về định dạng đĩa ảo, và hãy trả lời “Không” khi trình cài đặt hỏi bạn có muốn thiết đặt tự động độ phân giải và số lượng mầu hay không.

Hình 14: Cài XP trên VM trong RH

  1. Sau khi XP đã khởi động lại, chọn Settings - VMware Tools Install trên thanh công cụ của VMware Workstation để cài đặt trình điều khiển (driver) màn hình cho HĐH khách này.

Các bước còn lại được tiến hành trên máy ảo. Thông thường trình cài đặt VMware Tool tự động xuất hiện thông báo yêu cầu cài đặt, và bạn hãy thực hiện theo những chỉ dẫn trên màn hình. Rất có thể XP sẽ thông báo về tính không tương thích của phần mềm. Bạn không phải bận tâm, hãy cứ chọn tiếp tục. Nếu vì một lý do nào đó trình cài đặt không tự động chạy, bạn có thể mở nó từ ổ CD-ROM ảo của VM bằng cách chọn [Start – Run – gõ D:\VmwareTools.exe]

Hình 15: Cài đặt XP thành công

by echip.com site

10 điều cần biết về Linux

Hiện nay, Windows vẫn là hệ điều hành được sử dụng rộng rãi, đặc biệt là ở Việt Nam. Tuy nhiên, xu hướng sử dụng Linux cũng đang trở nên phổ biến mà nếu là một "IT Pro" thì chắc hẳn bạn cũng đã từng cài đặt và sử dụng Linux.

Trong bài viết này, VietNamNet cung cấp 10 điều cần biết căn bản về Linux giúp bạn làm quen với hệ điều hành đầy hứa hẹn này.

1. Cấu trúc thư mục

Cấu trúc thư mục không giống như trong Windows và các hệ điều hành khác, hệ thống tập tin trong Linux là một cây rất lớn (big tree). Thư mục Root ( / ) là thư mục gốc, các tập tin và các ổ đĩa khác chỉ là nhánh của Root.

Ví dụ: nếu bạn có 2 đĩa cứng a và b, một đĩa mềm và một ổ CD-ROM. Hãy giả sử rằng ổ đĩa thứ nhất có 2 phân vùng (partition) là a1 và a2, ổ đĩa thứ 2 chỉ có một phân vùng là b.

Trong Windows

  • ổ cứng a, phân vùng a1 (hda1): ổ đĩa C
  • ổ cứng a, phân vùng a2 (hda2): ổ đĩa D
  • ổ cứng b, một phân vùng b1 (hdb1): ổ đĩa E
  • ổ đĩa mềm: ổ A
  • ổ đĩa CD-ROM: ổ F

Ngược lại, trong Linux, mỗi ổ đĩa sẽ được gắn kết (mount) vào trong cây thư mục (Tree Directory) giống như là một thư mục bình thường:

  • hda1: / (Root)
  • hda2: /home
  • hdb1: /home/user/music
  • ổ đĩa mềm: /mnt/floppy
  • ổ CD-ROM: /mnt/cdrom
So sánh cấu trúc hệ thống tập tin giữa Linux và Windows

2. Hệ thống theo modul

Trong Windows 98/2000/XP hay Mac OS X... mỗi hệ điều hành đều có một giao diện đồ hoạ GUI không giống nhau.Trong Linux, mỗi modul trong hệ thống là hoàn toàn độc lập với nhau, vì vậy người sử dụng có thể trộn lẫn và tự tạo ra hệ điều hành cho riêng mình.

Không giống như hệ điều hành Windows của Microsoft, mọi thành phần đều kết nối và phụ thuộc lẫn nhau. Ngược lại, Linux lại cung cấp khả năng các chương trình làm việc độc lập với nhau, nếu chương trình này được gỡ bỏ thì các chương trình khác vẫn hoạt động tốt mà không gây ảnh hưởng gì. Chính vì khả năng phân chia modul như vậy mà HĐH Linux được phân phối bởi những người sử dụng hay các công ty lớn như RedHat, Xandros, Simply MEPIS và Suse... đều có thể tương thích với nhau.

Trong Linux, các chương trình cũng có thể thay đổi lẫn nhau, mà giao diện đồ hoạ GUI cũng không phải là ngoại lệ. Muốn có giao diện giống với Windows XP? Hãy sử dụng FVWM với theme XP. Muốn nhanh hơn? Hãy dùng IceWM. Muốn có đầy đủ tính năng? GNOME hoặc KDE sẽ là thích hợp nhất. Tất cả những gói phần mềm về giao diện GUI đều có những thuận lợi và yếu điểm riêng, nhưng chúng cũng đều hỗ trợ người dùng tương tác tốt với chuột.

3. Hỗ trợ phần cứng, phần mềm

Phần cứng, phần mềm và mọi thứ trong Linux cũng mới chỉ xuất hiện trong vài năm gần đây. Với thời gian chỉ bằng một nửa so với Windows, nhưng các phần mềm cho Linux mạnh mẽ hơn, ổn định hơn, "ngốn" ít tài nguyên hơn, và chi phí thì rẻ hơn so với nền tảng Windows.

Hỗ trợ phần mềm

Tuy nhiên, điều mà Linux cần phải quan tâm là hiện nay chưa có nhiều nhà cung cấp phần mềm hỗ trợ Linux. Ví dụ nếu muốn sử dụng QuickBook của Intuit trên Linux, thì không thể. Mặc dù, cũng có nhiều dự án cho phép các ứng dụng Windows có thể chạy trên Linux, như CrossOver Office (cho phép chạy Office trên Linux) và Wine (giả lập môi trường Windows và các ứng dụng Windows có thể chạy trên Linux). Nhưng các phần mềm này không thể chạy tốt và ổn định như trong môi trường thực của nó, người sử dụng cần phải chờ đợi khi các hãng cung cấp phần mềm chính thức chuyển sang Linux thì mới có thể sử dụng tốt được.

Hiện nay, cộng đồng mã nguồn mở đưa ra danh sách 15 000 chương trình hoạt động tốt trên Linux. Các phần mềm này đều miễn phí, chất lượng thì có thể khác nhau, nhưng hầu hết các chương trình đều viết rất tuyệt vời và có sự cải tiến đáng chú ý. Những phần mềm này có thể nhập và xuất các tập tin từ các định dạng của những phần mềm quen thuộc. Chẳng hạn, GNUCash có thể đọc các định dạng của QuickBook rất tốt, và OpenOffice.org có thể đọc tốt các định dạng tài liệu của bộ Micrsoft Office...

Hỗ trợ phần cứng

Để cài đặt phần cứng trên các máy tính Apple không đơn giản như trên Windows, và điều này cũng tương tự với Linux. Hầu hết các phần cứng ổ cứng, RAM, USB Flash, bo mạch chủ, card mạng và máy ảnh số đều làm việc tốt, nhưng một số phần cứng mới hoặc không được hỗ trợ thì rất khó cài đặt.

Các trình điều khiển làm việc với phần cứng được viết cho Linux đều phải được cung cấp miễn phí cho các cộng đồng người sử dụng Linux, mà điều này các hãng sản xuất phần cứng không muốn. Do đó, có thể đây là một điểm yếu so với Windows bởi các công ty phần cứng có thể làm việc trực tiếp với Microsoft về tính tương thích, và có xu hướng để Linux tự tìm cách hỗ trợ các thiết bị đó bởi họ muốn giữ bản quyền về công nghệ của riêng mình. Một thông tin tốt là các nhà cung cấp phần cứng cho Linux cũng như phần mềm đều đang có chuyển biến tích cực và nhiều công ty cũng đang dần hỗ trợ Linux.

Kết hợp giữa phần cứng, phần mềm trong các máy tính Linux là nhân hệ điều hành (kernel). Nhân hệ điều hành (HĐH) kết nối phần cứng và phần mềm, và những cập nhật mới nhất đều có sẵn trên Internet. Nếu đang sử dụng phần cứng mới và nhân HĐH cũ chưa hỗ trợ , hãy sử dụng phiên bản mới, đây cũng là một giải pháp sẽ giúp bạn vượt qua khó khăn. Để cài đặt nhân HĐH mới cũng không phải là quá phức tạp, tuy nhiên sử dụng trình quản lý các gói cài đặt sẽ đem lại sự đơn giản hơn.

4. Trình quản lý gói cài đặt

Thực ra có rất nhiều cách để cài đặt các chương trình Linux, nhưng cách dễ nhất là sử dụng trình quản lý cài đặt PM (Package Manager). PM đảm bảo chắc chắn rằng những tập tin bị mất đều được cài đặt lại và chương trình có thể chạy hoàn toàn chính xác, đúng yêu cầu.

Các hãng cung cấp Linux thường sử dụng các kho dữ liệu trực tuyến để lưu trữ các chương trình. Cài đặt các ứng dụng cũng dễ dàng, chỉ cần tìm kiếm các chương trình trong kho dữ liệu và nhấn chuột vào Install là xong. Không thể tìm IceWM hoặc MPlayer trong danh sách cài đặt? Cũng có những cách khác để cài đặt một khi dữ liệu cho những chương trình mà bạn không tìm thấy, hãy truy cập vào các kho dữ liệu trực tuyến như Synaptic cho Debian, Yum cho RedHat, YaST2 cho SuSE và Emerge cho Gentoo.

5. Quyền truy cập (Permission)

Linux được thiết kế cho nhiều người sử dụng, những người sử dụng này lại được chia thành nhiều nhóm. Mỗi người sử dụng đều có quyền đọc (Read), ghi (Write), hoạc thực thi (Execute) cho những tập tin của riêng họ, và quyền hạn để chuyển đổi quyền truy cập. Bởi Linux được thiết kế cho nhiều người sử dụng, mỗi người sử dụng đều có mật khẩu riêng, và giới hạn quyền truy cập của người sử dụng (User Permissions).

Quyền truy cập trong Linux

Một người dùng thuộc về một nhóm hoặc nhiều nhóm khác nhau, và mỗi người sử dụng có thể đặt quyền truy cập các tập tin/thư mục của họ có quyền đọc nhưng không thể ghi, hoặc kết hợp các R/W/X...

Người dùng quản trị root, cũng giống như Administrator trong Windows, có quyền truy cập vào tất cả những tập tin và chỉ những người sử dụng có quyền hạn mới được phép thay đổi những thiết lập hệ thống. Điều này giúp những người sử dụng thông thường không thể cài đặt những phần mềm gián điệp vào hệ thống và xoá những tập tin quan trọng.

6. Thư mục người dùng

Trong Windows có My Documents, nhưng bạn thường "quăng" những tài liệu ở chỗ nào? Rất nhiều người sử dụng lưu chúng ngay trên Desktop của Windows. Linux cũng có thể làm như vậy, nhưng mỗi người sử dụng đều cho một thư người dùng riêng, thường đặt tại /home/user. Trong thư mục người dùng bạn có thể lưu các tài liệu trong thư mục Documents (/home/user/documents), các liên kết tới chương trình, âm nhạc (/home/user/Music), hoặc bất cứ những gì nếu muốn. Bạn có thể tạo các tập tin hoặc các thư mục ở đó, tổ chức chúng theo cách mà mình thích.

7. Cài đặt mặc định

Sự khác biệt giữa các bản Linux từ các hãng phân phối như: các tập tin cũng được lưu vào các đường dẫn khác nhau và các ứng dụng cài đặt cho mỗi bản Linux cũng khác nhau... Nếu so sách các tập tin hệ thống giữa Redhat và SuSE cũng có sự khác biệt rất lớn. Hầu hết người sử dụng đều không cần phải biết nhiều tới sự khác biệt này, nhưng những nhà sản xuất phần mềm cần phải nhận biết rõ điều này. Vì vậy, khi nhờ sự giúp đỡ, hãy cho người khác biết rõ bạn đang sử dụng Linux từ nhà cung cấp nào. Nếu gặp không phải những rắc rối, và không quan tâm về sự khác biệt giữa những cài đặt mặc định này, bạn cứ yên tâm sử dụng, đó là cách tốt nhất để tránh "nhức đầu".

8 Giao diện dòng lệnh

Giao diện dòng lệnh trong Linux CLI (Command Line Interface), cũng giống như DOS của Windows. Nhưng khả năng của CLI lại mạnh mẽ và rất hữu ích khi giải quyết những sự cố máy tính. Nếu cần trợ giúp từ Internet hoặc hỏi ai đó, bạn có thể sử dụng giao diện dòng lênh để giúp bạn mà không cần phải nạp các trình quản lý GUI.

9.Tổ hợp Ctrl-Alt-Escape

Nhấn tổ hợp phím Ctrl-Alt-Escape, biểu tượng con trỏ chuột sẽ thay đổi hình dáng thành biểu tượng X, hoặc một biểu tượng nào đó. Trong chế độ này, chỉ cần nhấn vào cửa sổ chương trình bị lỗi hoặc treo, lập tức ứng dụng đó sẽ bị "giết". Tổ hợp phím này cũng tương tự như khi sử dụng Task Manager trong Windows. Khi đổi ý, bạn chỉ cần nhấn Esc để thoát khỏi chế độ này. Cũng giống sử dụng Task Manager của Windows, khi sử dụng sai, rất có thể những lỗi nghiêm trọng sẽ xảy ra và khởi động lại máy là không thể tránh khỏi.

10. Internet là người bạn thân

Sử dụng Linux cũng không hề đơn giản. Tuy nhiên, "không biết thì phải hỏi", rất nhiều câu hỏi được đưa ra trên các diễn đàn (Forum) về cách sử dụng Linux, và những câu trả lời, những mánh lới... đều có sẵn cho bạn. Một địa chỉ hấp dân mà bạn hãy ghé qua như: www.LinuxQuestions.org là một trang Web lớn cung cấp cho bạn một kho dữ liệu vô giá về Linux.

Lưu ý, trước khi đưa bất cứ một câu hỏi nào lên trang Web này hãy tìm kiếm các câu hỏi trong trang Web bởi rất có thể sẽ không phải đợi lâu, câu trả lời đã có sẵn ở đâu đó. Bạn cũng nên đọc qua những câu hỏi về một vấn đề hoặc một giải pháp khác nào đó, rất có thể chúng sẽ giúp ích cho vấn đề mà bạn đang gặp phải.

by quantrimang site

Cài đặt các ứng dụng từ mã nguồn trên Linux

Có nhiều bạn khi lần đầu tiên đến với Linux cảm giác sự khó khăn và bất tiện của việc cài đặt các ứng dụng trên Linux, đặc biệt là các ứng dụng phải cài đặt từ mã nguồn như xine, openGL...

Trên Windows, bạn chỉ cần tải ứng dụng về, giải nén rồi click vào file setup là hoàn tất việc cài đặt, nhưng trên Linux đó là một chuyện hoàn toàn khác. Bài viết này sẽ nhằm mục đích hướng dẫn bạn các thao tác cài đặt các phần mềm ứng dụng trên Linux và cung cấp các kiến thức căn bản giúp bạn có thể quản lý hệ thống của riêng mình.

Bài viết sẽ giả sử rằng bạn đã biết cách sử dụng một số phần mềm quản lý gói như rpm. Để dễ dàng thì bài viết sẽ gọi các phần mềm trên Linux là các gói (package). Thực tế tên gọi 'gói' đúng đắn hơn vì các gói trên Linux có thể không phải là một trình ứng dụng nào đó mà chỉ là các thư viện nền như thư viện đồ họa Gtk+ hoặc OpenGL...

1. Giới thiệu

Bạn có thể sẽ tự hỏi rằng tại sao các phần mềm trên Linux không tự đóng gói sẵn cho chúng ta rồi khi xuất bạn chỉ cần tải về và cài đặt nó. Câu trả lời nằm ở 2 vấn đề, vấn đề thứ 1 là các phần mềm viết trên Linux không hẳn chỉ có thể chạy trên Linux mà có thể chạy trên nhìều hệ thống khác nhau trong họ Unix như Solaris, AIX, HP-UX... thậm chí các phần mềm đó có thể chạy trên rất nhiều vi xử lý khác nhau như Intel, Motorola, PPC... Có được sự đa năng đó là nhờ vào tính đa nền (portable) của ngôn ngữ C/C++ nhưng đòi hỏi chúng ta phải biên dịch lại phần mềm từ mã nguồn cho hệ thống mà chúng vận hành. Bạn sẽ tự hỏi là tại sao các nhà phát triển lại không biên dịch sẵn cho chúng ta trên hệ thống thông dụng nào đó như Linux chẳng hạn.

Câu trả lời là bởi vì các phần mềm này là phần mềm mã nguồn mở và các nhà phát triển không có cách gì hơn là để lại phần biên dịch cho chúng ta. Tuy nhiên bạn đừng thất vọng vì có một số nhà phát triển rất là tốt bụng có thể biên dịch sẵn cho chúng ta ra các gói có dạng rpm và cùng với sự hỗ trợ của công ty Red Hat chúng ta cũng đã có những chương trình quản lý các phần mềm hiệu quả không kém gì trên Windows như RPM (Redhat Package Manager). Mặc dù là thế nhưng không phải lúc nào các gói mới nhất từ các nhà phát triển gốc đều có phiên bản biên dịch sẵn mà thường là một khỏang thời gian sau các phiên bản đó mới có được dưới dạng biên dịch sẵn. Bên cạnh đó còn có rất nhiều nhà phát triển không hề biên dịch sẵn sản phầm của mình mà đòi hòi người dùng phải biên dịch, điển hình là trình chơi phim và nhạc xine. Các gói biên dịch sẵn các bạn có từ xine đa số là từ các nhà phát triển khác. Do đó nếu bạn không bạn không biết cách cài đặt các gói từ nguồn là một trở ngại rất lớn cho việc hiểu và quản trị hệ thống của riêng mình.

2. Căn bản của việc cài đặt

Điều đầu tiên khi bạn tiến hành cài đặt là bạn phải có mã nguồn của gói đó trước. Hãy lên mạng search bất kì gói nào bạn thích như thư viện Gtk+ hoặc Gnome... Sau khi tải về, thông thường có dạng là .gz hoặc .bz2, đây đều là 2 chuẩn nén khác nhau, sau khi giải nén bằng gunzip cho gz hoặc bunzip2 cho bz2 thì các gói sẽ có dạng mới là tar, cũng là một chuẩn nén khác, bạn có thể giải nén bằng lệnh, tar -xvf... Thế nhưng đế dễ dàng và tiết kiệm dung lượng ổ đĩa thì chúng ta có thể gộp các câu lệnh đó thành 1 như sau:

- Đối với gói .gz: # tar -zxvf tengoi.gz
- Đối với gói .bz2: # tar -jxvf tengoi.bz2

Sau khi giải nén xong và tìm tập tin INSTALL để đọc cụ thể cho phần hướng dẫn cài đặt. Thế nhưng hầu như các gói đều tuân theo các thao tác tuần tự sau:

# ./configure
# make
# make install

Chỉ có vài gói đặc biệt sẽ có riêng cách cài đặt nhưng khi bạn đã nắm vững nguyên tắc chung thì dù là cách thức nào bạn cũng có thể xoay xở được. Chúng ta hãy xét đến câu lệnh đầu tiên, ./configure... Thực chất configure là một shell script sẽ kiểm tra những yêu cầu của hệ thống của bạn có đáp ứng đủ để cài đặt gói lên không, ví dụ như một số gói đòi hỏi bạn phải có sẵn thư viện đồ họa Gtk 2.4 trở lên hoặc là thư viện để giải nén nhạc Mp3...

Rất nhiều gói có sự phụ thuộc như thế chứ các gói khi tải về không hề có sẵn các gói tương ứng cần thiết cho nó. Khi bạn chạy configure xong kết quả sẽ cho bạn biết các gói nào cần thiết để cài đặt. Nhiệm vụ của bạn không gì hơn là phải tìm các gói phụ thuộc đó cài lên máy rồi mới tiếp tục việc cài đặt. Nếu như hệ thống của bạn thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu để cài đặt thì các Makefile sẽ được tạo ra. Makefile là một file đặc biệt của tiện ích make nhằm hướng dẫn biên dịch mã nguồn của gói ra dạng thực thi.

Sau khi bạn thực thi lệnh 'make' xong thì toàn bộ mã nguồn của gói đã được biên dịch sang dạng thực thi nhưng các file thực thi vẫn còn nằm trên thư mục hiện hành. Do đó bạn cần phải thực hiện thêm lệnh 'make install' để chép các file thực thi đó sang đúng vị trí của nó trên hệ thống. Nếu như không có thông báo lỗi gì xảy ra thì bạn đã hòan tất việc cài đặt gói lên hệ thống của mình.

3. Tổ chức các file trên hệ thống

Bạn hoàn toàn biết thư mục trên Linux thì thư mục /usr là thư mục quan trọng nhất vì nó sẽ chứa các chương trình và hàm thư viện trên đó. Trong thư mục /usr/bin là sẽ chứa các file thực thi cho các gói bạn đã cài đặt trên máy, các file trong thư mục này bạn sẽ thấy các file rất quen thuộc như mozilla, gedit .v.v... Thư mục /usr/lib sẽ chứa các hàm thư viện, bạn sẽ thấy rất nhiều files có phần mở rộng là .so (shared object) là các hàm thư viện liên kết động hoặc .a (archive) hoặc .la đều là các hàm thư viện liên kết tĩnh. Đặc tính căn bản của 2 dạng thư viện này là hàm thư viện liên kết tĩnh sẽ được liên kết thẳng với files thực thi luôn trong quá trình liên kết, còn hàm thư viện liên kết động thì sẽ được liên kết trong quá trình thực thi, cho nên sau khi chương trình đã được biên dịch và liền kết rồi các thư viên tĩnh chúng ta có thể bỏ đi nhưng thư viện liên kết động thì bắt buộc phải đi kèm với chương trình. Thư mục /usr/share sẽ chứa các icon, manual hoặc info của gói.

4. Loại bỏ một gói

Nếu bạn mong muốn lọai bỏ một gói đã cài đặt trên hệthống thì cách duy nhất là bạn phải vào lại thư mục mã nguồn của gói và gõ lệnh make 'uninstall'... thông thường bạn sẽ có các câu lệnh sau: 'make clean' 'make distclean'... Các câu lệnh có ý nghĩa rất tương đối và được định nghĩa trong tập tin Makefile, nên đầu tiên bạn cứ thử với 'make uninstall' rồi 'make clean' cái cuối cùng 'make distclean' là giúp bạn xóa hết các tập tin đã biên dịch ở thư mục nguồn và đồng thời xóa Makefile, bạn phải chạy lại ./configure để tạo lại Makefile.

5. Quản lý các gói

Do việc xóa bỏ một gói như trên rất là phiền phức đôi lúc bạn chẳng thể xóa bỏđược nếu như mất đi mã nguồn, cho nên bạn có thể thay vì cài nó vào thư mục mặc định là /usr thì bạn có thể cài vào các thư mục của riêng bạn, ví dụ như bạn có thể tạo thư mục '/soft'... Sau đó để cài gói gedit thì bạn tạo thêm thư mục /soft/gedit và dùng lệnh ./configure... bạn thêm tùy chọn sau:

./configure --prefix=/soft/gedit

Thì khi bạn gõ make install sẽ copy toàn bộ sang thư mục /soft/gedit. Khi bạn muốn xóa toàn bộ gói thì chỉ đơn giản xóa đi thư mục đó thôi. Lưu ý là khi bạn cài vào thư mục riêng của mình rồi bạn phải tạo 2 đường dẫn cho 2 biến môi trường (environment variable) LD_LIBRARY_PATHPKG_CONFIG_PATH.

LD_LIBRARY_PATH sẽ có đường dẫn đến thư mục lib của gói vừa tạo (ví dụ như /soft/gedit/lib) còn PKG_CONFIG_PATH sẽ có đường dẫn đến thư mục pkg_config trong thư mục lib (ví dụ như /soft/gedit/lib/pkg_config). Bên cạnh đó nếu bạn muốn chương trình gọi tự động thì bạn cũng nên thêm vào biến PATH cho gói của mình.

6. Lời kết

Đối với cách cài trên thì bạn dể dàng quản lý các gói của mình nhưng đối với các dạng thư viện thì bạn nên cài nó vào thư mục /usr hơn là thư mục riêng của mình vì một số gói sẽ tìm các thư việc trên thư mục mặc định /usr/usr/local hơn là các thư mục riêng người dùng nên nếu bạn cài lên thư mục riêng thì đôi lúc các thư viện đó sẽ không được tìm ra. Thông thường lệnh ./configure đi đôi với rất nhiều tùy chọn cho phép bạn lựa chọn nhiều tính năng khác nhau, bạn hãy gỏ ./configure --help để mà biết đầy đủ các tùy chọn của gói. Bài viết chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót bằng cách này hay cách khác, rất mong sự góp ý của các bạn, Xin cám ơn.

by quantrimang site

Basic Shell commands in Linux - Các lệnh shell trong Linux

Khi mở một shell, bạn cần đến tài khoản kích hoạt vào thư mục chủ (thông thường nằm trong /home/tên_người_dùng).

Chú ý rằng mỗi lệnh đều có nhiều tùy chọn riêng của mình. Để xem các tùy chọn cho một lệnh cụ thể, đơn giản bạn chỉ cần gõ "man " (trong đó: man là từ khóa; command là tên lệnh). Một điểm quan trọng cần chú ý là trong các hệ điều hành Linux, câu lệnh có phân biệt chữ hoa, chữ thường. “A” sẽ được hệ điều hành hiểu là khác so với “a”.

Để vào hệ thống file, dùng:

- pwd: đưa ra ngoài màn hình thư mục đang hoạt động (ví dụ: /etc/ssh).

- cd: thay đổi thư mục (ví dụ: cd .. – ra một cấp thư mục hiện tại; cd vidu – vào thư mục /vidu).

- ls: đưa ra danh sách nội dung thư mục.

- mkdir: tạo thư mục mới (mkdir tên_thumuc).

- touch: tạo file mới (touch ten_file).

- rmdir: bỏ một thư mục (rmdir ten_thumuc).

- cp: copy file hoặc thư mục (cp file_nguồn file_đích).

- mv: di chuyển file hoặc thư mục; cũng được dùng để đặt lại tên file hoặc thư mục (mv vị_trí_cũ vị_trí_mới hoặc mv tên_cũ tên_mới).

- rm: loại bỏ file (rm tên_file).

Để tìm kiếm file, bạn có thể dùng:

- find : dùng cho các tên file.

- grep <>: để tìm nội dung trong file.

Để xem một file, bạn có thể dùng:

- more : hiển thị file theo từng trang.

- cat <>: hiển thị tất cả file.

- head <>: hiển thị các dòng đầu tiên.

- tail <>: hiển thị các dòng cuối cùng (có thể hữu ích trong những trường hợp như khi bạn muốn xem thông tin cuối cùng của một file hệ thống).

Để chính sửa file, bạn phải sử dụng trình soạn thảo tích hợp sẵn trên dòng lệnh. Thông thường, đây là vi và được dùng với cú pháp: vi .

Để giải nén một lưu trữ (thông thường có đuôi tar.gz), bạn phải dùng lệnh tar với cú pháp tar -xvf .

Để in một file, dùng lệnh lpr . Chú ý là bạn phải có một số daemon hoạt động để quản lý máy in. Thông thường đây là các cup (chủ yếu là UNIX Printing System) có thể sử dụng cho tất cả các phân phối chính.

Để loại bỏ file khỏi hàng đợi ở máy in (bạn có thể lên danh sách hàng đợi bằng lệnh lpq), sử dụng câu lệnh lprm .

Để lắp hoặc gỡ bỏ thiết bị (thêm vào hệ thống file với vai trò như một phương tiện được phép sử dụng), dùng:

- mount /mnt/floppy: lắp thêm ổ mềm.

- umount /mnt/floppy: gỡ bỏ ổ mềm.

- mount /mnt/cdrom: lắp ổ CD-ROM.

- mount /mnt/cdrom: gỡ ổ DC-ROM.

Các thiết bị này thường được cài và cho phép sử dụng một cách tự động. Nhưng có thể một ngày đẹp trời nào đó bạn lại phải tự mình thực hiện công việc này khi có lỗi xảy ra. Đừng lo lắng!

Để tạo một phân vùng

Đầu tiên, tạo một thư mục trong /mnt (mkdir /mnt/ổ_đĩa_mới). Sau đó sử dụng lệnh mount (mount /dev/source /mnt/ ổ_đĩa_mới), trong đó /dev/source là thiết bị (tức phân vùng) bạn muốn lắp thêm vào hệ thống file.

Nếu muốn kết nối tới một host từ xa, sử dụng lệnh ssh. Cú pháp là ssh .

Quản lý hệ thống:

- ps: hiển thị các chương trình hiện thời đang chạy (rất hữu ích: ps là cái nhìn toàn bộ về tất cả các chương trình).

Trong danh sách đưa ra khi thực hiện lệnh ps, bạn sẽ thấy có số PID (Process identification - nhân dạng tiến trình).

Con số này sẽ được hỏi đến khi muốn ngừng một dịch vụ hay ứng dụng, dùng lệnh kill .

- top: hoạt động khá giống như Task Manager trong Windows. Nó đưa ra thông tin về tất cả tài nguyên hệ thống, các tiến trình đang chạy, tốc độ load trung bình… Lệnh top -d thiết lập khoảng thời gian làm tươi lại hệ thống. Bạn có thể đặt bất kỳ giá trị nào, từ .1 (tức 10 mili giây) tới 100 (tức 100 giây) hoặc thậm chí lớn hơn.

- uptime: thể hiện thời gian của hệ thống và tốc độ load trung bình trong khoảng thời gian đó, trước đây là 5 phút và 15 phút.

Thông thường tốc độ load trung bình được tính toán theo phần trăm tài nguyên hệ thống (vi xử lý, RAM, ổ cứng vào/ra, tốc độ load mạng) được dùng tại một thời điểm. Nếu tốc độ được tính toán là 0.37, tức có 37% tài nguyên được sử dụng. Giá trị lớn hơn như 2.35 nghĩa là hệ thống phải đợi một số dữ liệu, khi đó nó sẽ tính toán nhanh hơn 235% mà không gặp phải vấn đề gì. Nhưng giữa các phân phối có thể khác nhau một chút.

- free: hiển thị thông tin trên bộ nhớ hệ thống.

- ifconfig : để xem thông tin chi tiết về các giao diện mạng; thông thường giao diện mạng ethernet có tên là eth(). Bạn có thể cài đặt các thiết lập mạng như địa chỉ IP hoặc bằng cách dùng lệnh này (xem man ifconfig). Nếu có điều gì đó chưa chính xác, bạn có thể stop hoặc start (tức ngừng hoặc khởi_động) giao diện bằng cách dùng lệnh ifconfig up/down.

- passwd: cho phép bạn thay đổi mật khẩu (passwd người_dùng_sở_hữu_mật_khẩu hoặc tên người dùng khác nếu bạn đăng nhập hệ thống với vai trò root).

- useradd: cho phép bạn thêm người dùng mới (xem man useradd).

Dù ở phân phối nào, bạn cũng có thể dùng phím TAB để tự động hoàn chỉnh một lệnh hoặc tên file. Điều này rất hữu ích khi bạn quen với các lệnh. Bạn cũng có thể sử dụng các phím lên, xuống để cuộn xem các lệnh đã nhập. Bạn có thể dùng lệnh đa dòng trên một dòng. Ví dụ như, nếu muốn tạo ba thư mục chỉ trên một dòng, cú pháp có thể là: mkdir thư_mục_1 ; mkdir thư_mục_2 ; mkdir thư_mục_3.

Một điều thú vị khác nữa là các lệnh dạng pipe. Bạn có thể xuất một lệnh thông qua lệnh khác. Ví dụ: man mkdir | tail sẽ đưa ra thông tin các dòng cuối cùng trong trang xem "thủ công" của lệnh mkdir.

Nếu lúc nào đó được yêu cầu phải đăng nhập với tài khoản gốc (tức "siêu" admin của hệ thống), bạn có thể đăng nhập tạm thời bằng cách dùng lệnh su. Tham số -1 (su-1) dùng để thay đổi thư mục chủ và cho các lệnh đã hoặc đang dùng. Chú ý là bạn cũng sẽ được nhắc một mật khẩu.

Để thoát hay đóng shell, gõ exit hoặc logout.

by Tutorial

2007/05/27

Những hình ảnh đầu tiên của Triển lãm ôtô Thượng Hải 2007

Ngày 20/4, triển lãm ôtô Thượng Hải 2007 (triển lãm quốc tế ôtô và công nghệ sản xuất ôtô lần thứ 12) đã chính thức khai mạc. Triển lãm sẽ diễn ra trong 9 ngày (từ 20 đến 28/4) và có sự xuất hiện của khá nhiều mẫu xe mới của các hãng xe nổi tiếng thế giới.

Sau đây, mời các bạn chiêm ngưỡng một số hình ảnh mới nhất tại triển lãm lần này.

Khách tham quan đang chiêm ngưỡng chiếc Ryuga của Mazda tại triển lãm Thượng Hải, ngày 21/4/2007

Một khách tham quan triển lãm chụp ảnh chiếc Ryuga Mazda

Một phụ nữ chụp ảnh bên chiếc Mini Cooper mới

Cô người mẫu xinh đẹp bên một mẫu xe mới của Ford

Mercedes Benz V12 Biturbo tại triển lãm

Tham dự triển lãm Thượng Hải, hãng xe của nước chủ nhà, Chery đã mang đến một chiếc A1 tuyệt đẹp cùng cô người mẫu hết sức duyên dáng

Và đây là một mẫu xe khác cũng của Chery, chiếc A6CC

Chiếc MG7 với tông màu huyền bí đã thu hút được sự chú ý của nhiều khách tham quan triển lãm

Còn đây là chiếc Kia Kue

By AnDan Motor Car site

2007/05/23

Pakistan fatwa minister to stay

Pakistani Minister for Tourism, Nilofar Bakhtiar
Nilofar Bakhtiar was pictured after a paragliding flight
Pakistani Prime Minister Shaukat Aziz has rejected an offer to resign by the tourism minister, who has been under strong pressure from hard-line clerics.

Mr Aziz said that the minister, Nilofar Bakhtiar, was needed in the cabinet and she should carry on with her duties.

Last month, a fatwa was issued against her after she was pictured hugging a man following a paragliding flight.

Clerics said Ms Bakhtiar's behaviour was obscene. She said the photo was misleading and she had done no wrong.

Morality 'violation'

Prior to her submitting her resignation as minister, Ms Bakhtiar had lost her job as president of the women's wing of the ruling Pakistan Muslim League party.

Unfortunately some irresponsible elements in Pakistan presented this noble cause in a malicious manner
Tourism Minister Nilofar Bakhtiar

The party said on Wednesday that her removal from the post was not connected with the hugging incident and it welcomed the prime minister's rejection of her resignation.

The BBC's Syed Shoaib Hasan in Islamabad says the affair reflects differing attitudes towards Islamic fundamentalism within the ruling party.

The row emerged after the tourism minister made the jump in France in March to raise money for victims of the 2005 Kashmir earthquake.

Newspaper photographs showed her hugging her elderly instructor after the jump.

Ms Bakhtiar hugs her instructor, 10 April 2007 in Le Havre, France
The hug that caused all the fuss

Hard-line clerics at the radical Lal Masjid (Red Mosque) in Islamabad issued a fatwa, or religious edict, condemning her behaviour, saying it violated Islamic morality.

At the time Ms Bakhtiar vowed not to be intimidated, but officials on Tuesday confirmed reports that she had handed in her resignation.

She was quoted as saying she had been hurt by the way the issue was sensationalised and that her parachute jump had been for a noble cause.

"We don't need to be intimidated by these people," she told Reuters Television in April. "I have no regrets... I would do it again happily if it helps the people of Pakistan."

Observers say the affair highlights a growing climate of extremism in Pakistan.

In February a female provincial minister was shot dead by a man who, police said, did not think women should be in politics.

The clerics who denounced the tourism minister have set up their own vigilante anti-vice squads in the capital.