Google
 
My visitors : Hit Counter by Digits
Showing posts with label Focus. Show all posts
Showing posts with label Focus. Show all posts

2009/11/23

Sự khác nhau giữa IELTS, TOEFL, TOEIC

Tui đang  chọn học English để ra trường không biết nên chọn cái nào giữa 3 hướng: IELTS, TOEFL, TOEIC. Search được nhiều thông tin hay post ra để lưu trữ.

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ IELTS
- Sơ lược về IELTS: IELTS (viết tắt của International English Language Testing System) là chứng chỉ về tiếng Anh hiện do 3 tổ chức giáo dục lớn của thế giới sáng lập và sở hữu là ĐH Cambridge, British Council (BC) - Anh, IDP - Uc. IELTS được chia làm 2 loại Học Thuật (Academic) và Tổng quát (General Training). Hầu hết tất cả chúng ta đều thi IELTS Academic vì nếu ai nuôi mộng học thạc sĩ nước ngoài thì phải có bằng này.
- Nội dung thi IELTS bao gồm: IELTS bao gồm tập hợp của 4 bài thi cho các kỹ năng Nghe, nói, đọc, viết, với điểm cao nhất cho mỗi phần là 9. Điểm các môn nghe, đọc có thể có lẻ (6.5, 7.5) nhưng với nói và viết thì luôn luôn chẵn (6 hoặc 7 hoặc siêu thì là 8)
- Cách chấm điểm như thế nào? Dưới đây là các tính điểm của các môn IELTS academic (tức là học thuật) từ 5 điểm trở lên. Các bạn cứ bám theo thang điểm này mà xem trình độ võ công của mình đến đâu nhé.
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TOEFL
- TOEFL (Test of English as a Foreign Language) là bài thi được chuẩn hoá và được công nhận trên toàn thế giới. TOEFL đánh giá năng khả năng hiểu tiếng Anh chuẩn được dùng tại vùng Bắc Mỹ, khả năng nhận biết những qui tắc ngữ pháp, cấu trúc câu trong tiếng Anh viết cơ bản và khả năng hiểu những đoạn văn ngắn với đề tài thường gặp tại giảng đường các trường ĐH Hoa Kỳ.
- TOEFL có hai loại bài thi:

  • TOEFL ITP Dành cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức, sử dụng để đánh giá trình độ tiếng Anh trong và ngoài nước.
  • TOEFL iBT Dành cho các cá nhân muốn đi du học nước ngoài.
- TOEFL ITP (Institutional Testing Program) là gì? TOEFL Nội Bộ Là chương trình để đánh giá trình độ tiếng Anh của những người không nói tiếng Anh bản ngữ ở trình độ trung và cao cấp. Bài thi nhằm hướng tới đối tượng là các cá nhân đang học tập và làm việc trong các trường học, cơ quan, tổ chức của người Việt Nam và nước ngoài.
- Hình thức thi: Thí sinh làm trắc nghiệm trên giấy. Bài thi gồm có 3 phần: nghe hiểu, ngữ pháp và đọc hiểu vơi thời gian làm bài 2 tiếng.
- Mục đính của TOEFL ITP: ITP là cẩm nang hữu ích để đánh giá trình độ tiếng Anh cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức phù hợp với nhiều mục đích khác nhau:
- Thi xếp lớp theo trình độ phù hợp.
- Đánh giá trình độ tiếng Anh đầu và cuối các khoá họ bằng tiếng Anh.
- Đánh giá sự sẵn sàng về trình độ tiếng Anh trước khi đi du học.
- Tạo điều kiện cho sinh viên làm quen với hình thức thi trắc nghiệm.
- Tuyển chọn đầu vào cho các chương trình học bổng. Đây là yêu cầu bắt buộc đối với các thí sinh nộp hồ sơ cho các chương trình học bổng Fulbright, Humphey, Quỹ Giáo Dục Việt Nam (VEF), học bổng phát triển nguồn nhân lực Nhật Bản, học bổng ngân sách Nhà Nước do Bộ Giáo Dục và Đào Tạo quản lý và một số học bổng khác.
- Ưu điểm của TOEFL ITP
  • Thời gian linh hoạt: Ngoài những kỳ thi diễn ra hàng thàng, TOEFL ITP còn được tổ chức theo nhu cầu của các đơn vị khác nhau, đặc biệt là các chương trình cấp học bổng cho sinh viên Việt Nam.
  •  Đăng ký đơn giản: Chỉ cần đăng ký trước ngày thi từ 2 - 3 tuần.
  •  Lợi ích kinh tế: Lệ phí thi thấp hơn nhiều so với thi TOEFL quốc tế.
  •  Độ tin cậy cao: Điểm số phản ánh chính xác trình độ vị TOEFL ITP là bản sao của TOEFL quốc tế.
- Điểm thi TOEFL ITP: Thang điểm của TOEFL ITP: 310 – 677
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TOEIC
- Kỳ thi TOEIC là gì? Kỳ thi TOEIC (Bài kiểm tra Anh ngữ trong Giao Tiếp Quốc Tế) nhằm đánh giá sự lưu loát về tiếng Anh của những người không phải người bản xứ làm trong các văn phòng, trụ sở quốc tế. Các công ty, cơ quan chính phủ, và viện giáo dục dựa vào những kết quả của kỳ thi TOEIC để đánh giá những kỹ năng Anh ngữ của những nhân viên hiện tại và tương lai.
- Hình thức của kỳ thi TOEIC là gì?
Bài thi TOEIC là một bài thi trắc nghiệm làm trên giấy (paper and pencil, multiple-choice test) gồm có hai thành phần (tổng thời gian làm bài là 120 phút, tổng số câu hỏi là 200 câu) cụ thể như sau:
Section I: Listening Comprehension (100 câu hỏi, khoảng 45 phút làm bài)
Thành phần- Kiểu câu hỏi- Số lượng câu hỏi
Part 1- Photographs- 20 (4 lựa chọn)
Part 2- Question and Response- 30 (3 lựa chọn)
Part 3- Short Conversations- 30 (4 lựa chọn)
Part 4- Short Talks- 20 (4 lựa chọn)
Section II: Reading (100 câu hỏi, 75 phút làm bài)
Thành phần- Kiểu câu hỏi- Số lượng câu hỏi
Part 5- Incomplete Sentences- 40 (4 lựa chọn)
Part 6- Error Recognition- 20 (4 lựa chọn)
Part 7- Reading Comprehension- 40 (4 lựa chọn)
Điểm số TOEIC được tính như sau:
1.Trước tiên số lượng câu hỏi trả lời đúng của thí sinh cho từng section được ghi nhận. Đây là điểm thô (Raw Score)
2.Điểm thô được quy đổi thành điểm thành phần theo một thang cho sẵn của từng bài thi cụ thể. Điểm này được gọi là điểm chuyển đổi (Converted Score). Điểm chuyển đổi tối đa cho mỗi section là 495, và tối thiểu là 5. Quy trình tính điểm này về cơ bản giống như quy trình tính điểm TOEFL.
3.Tổng điểm của 2 section chính là điểm TOEIC của thí sinh. Như vậy điểm TOEIC tối đa là 990 và tối thiểu là 10.
Phần lớn thí sinh có mức điểm của hai thành phần là tương đối cân bằng, tuy rằng điều này không phải là luôn luôn đúng. Chẳng hạn một thí sinh có thể có điểm TOEIC là 600, nhưng điểm Listening là 200 và điểm Reading là 400. Trong trường hợp này, có thể kết luận là nhóm khả năng đọc-viết của thí sinh đó vượt trội hơn là nhóm khả năng nghe-nói.

- Sự khác biệt giữa kỳ thi TOEIC và TOEFL là gì? Bài thi TOEIC đã được phát triển nhằm cung cấp cho các doanh nghiệp, ngành thương mại và công nghiệp một tiêu chuẩn đánh giá chính xác và tin cậy về sự lưu loát tiếng Anh dành cho các nhân viên hiện tại và tương lai. Kỳ thi TOEFL (Kiểm Tra tiếng Anh như một Ngoại Ngữ) đã được thiết kế nhằm đánh giá những kỹ năng Anh ngữ của các sinh viên Ngoại Quốc muốn nhập học tại các trường cao đẳng và đại học ở Bắc Mỹ.
- Tôi cần đạt bao nhiêu điểm để đậu trong kì thi TOEIC? Không có thang điểm nào qui định đậu hay rớt. Điểm số sẽ phản ánh trình độ thông thạo tiếng Anh của người dự thi. Các công ty sẽ dựa vào điểm số của các kỹ năng tiếng Anh bạn ghi được trong kì thi mà tiến cử bạn một chức vụ hay nhiệm vụ quan trọng.
- Đối tượng nào quan tâm đến kì thi TOEIC? Và với Mục Đích gì?
- Những người cần sử dụng tiếng Anh trong môi trường làm việc cần tham dự kỳ thi TOEIC. Họ làm việc tại các doanh nghiệp, nhà hàng, khách sạn và bệnh viện trong số những ngành khác, các bộ phận kỹ thuật, kinh doanh, và quản lý.
- Các ngành nghề sau đây tham dự kỳ thi TOEIC - Các doanh nghiệp, cơ quan chính phủ, trường học, và các chương trình đào tạo Anh ngữ.
- Các doanh nghiệp và cơ quan chính phủ sử dụng điểm thi TOEIC nhằm hỗ trợ họ đưa ra những quyết định nhân sự quan trọng. Điều này gồm có việc tuyển dụng, quảng cáo và hoàn thành những nhiệm vụ tại nước ngoài.
Những chương trình đào tạo Anh ngữ tận dụng kỳ thi TOEIC để giúp họ đánh giá sự lưu loát về Anh ngữ của sinh viên và theo dõi sự tiến bộ của họ.

Đọc xong chắc tui chọn TOEIC quá. Không biết có ai ý kiến gì không???

2009/02/18

Mua trọn bộ máy tính tại Phong Vũ được tặng hàng khuyến mãi chất lượng như hàng NHẬT ...

Ngày Chủ nhật 15/02/09 vừa rồi tui và người quen có mua máy tính tại Phong Vũ. Tui mua máy bộ do PV ráp trị giá 4,6 triệu và một monitor Samsung19 2,6 triệu. Hỏi nhân viên thì nghe là mua 2 món trên được khuyến mãi 1 usb 2Gb và 1 headphone, nhưng khi tui nhận hàng kiểm tra các tem bảo hành cho thiết bị thì mới biết là. Hàng khuyến mãi không được bảo hành.
Headphone không đuọc bảo hành thì còn chấp nhận được( do headphone này cũng rẻ chỉ khoảng 50 ngàn là cao). Nhưng USB mà không bảo hành thì thật không chịu được.
USB hiệu Transend này tui đã mua ở một tiệm trên Bùi Thị Xuân giá 75ngàn bảo hành một năm, mà tới giờ bảo hành 2 lần rồi, bây giờ nó đang bị lỗi nữa. Còn Phong Vũ khuyến mãi kiểu đó còn tệ hơn cây USB ở Nhật Tảo nữa. Nó còn được bảo hành một tháng giá chỉ 50-60 ngàn.
Cuối cùng, tui có cảm giác như bị lừa 1 cách công khai. Thật sự, tui cũng không muốn nói xấu ai, nhưng mua xong hàng về nhà mà cứ tức anh ách. Định viết liền trong ngày nhưng không có thì giờ nên hôm nay mới post. Mong có người đọc bài này sẽ cảnh giác trước các nhà bán lẻ có thương hiệu cũng như không có thương hiệu. Tui nhớ câu này mãi : "ĐỌC KĨ HƯỚNG DẪN TRƯỚC KHI SỬ DỤNG"!!! Xem họ khuyến mãi gì, hiệu gì, cấu hình chất lượng ra sao, và có bảo hành không.

2008/10/14

Ý nghĩa các con số từ biển số xe ở Việt Nam

Lang thang trên net, mình gặp một bài post rất hay trên forum BinhDinhFFC về thông tin của các biển số xe ở Việt Nam. Cũng muốn tiện cho việc tham khảo của mình sau này nên mạn phép copy bài post đó lên đây. Các bạn có thể link tại đây xem bài gốc mà mình đã sao chép. Sau đây là chi tiết các thông tin :

1./ Màu xanh chữ trắng là biển xe của các cơ quan hành chính sự nghiệp:

- Trực thuộc chính phủ thì là biển xanh 80
- Các tỉnh thành thì theo số của các tỉnh thành tương ứng (xem phần dưới)

2./ Màu đỏ: Cấp cho xe quân đội, xe của các doanh nghiệp quân đội là biển 80 màu trắng.

Biển số quân đội với 2 chữ cái đầu tiên là viết tắt của:
A=Quân đoàn, ví dụ AA là Quân đoàn 1, AB là Quân đoàn 2
B=Bộ tư lệnh, ví dụ BT là BTLtăng thiết giáp, BD là BTLđặc công, BH là BTLhóa học.
H=Học viện
K=Quân khu, ví dụ KA Quân khu 1, KB quân khu 2, KT quân khu Thủ đô
T=Tổng cục, TC tổng cục chính trị, TH Tổng cục Hậu cần
Q=Quân chủng, QP qc phòng không, QK quân chủng không quân
(các chữ viết nghiêng không chính xác đâu nhé, bác nào có quy định chính xác thì bổ xung)

  • AT ... Binh đoàn 12
  • AD ... Quân Đoàn 4 , Binh đoàn cửu long
  • BC ... Binh chủng Công Binh
  • BH ... Binh chủng hoá học
  • BT ... Binh chủng thông tin liên lạc
  • BP .... Bộ tư lệnh biên phòng
  • HB ... Học viện lục quân
  • HH ...Học viện quân y
  • KA .. Quân khu 1
  • KB ... Quân khu 2
  • KC ... Quân khu 3
  • KD ... Quân khu 4
  • KV ... Quân khu 5
  • KP ... Quân khu 7
  • KK ... Quân khu 9
  • PP... các quân y viện
  • QH ... Quân chủng hải quân
  • QK , QP ... Quân chủng phòng không không quân
  • TC ... Tổng cục chính trị
  • TH ... tổng cục hậu cần
  • TK .... Tổng cục công nghiệp quốc phòng
  • TT ... Tổng cục kỹ thuật
  • TM ... Bộ tổng tham mưu
3./ Màu vàng: Cấp cho xe thuộc bộ tư lệnh biên phòng (lâu rồi không thấy không biết đã thay đổi chưa)

4./ Màu trắng với 2 chữ và năm số là biển cấp cho các đối tượng có yếu tố nước ngoài.

NG là xe ngoại giao
NN là xe của các tổ chức, cá nhân nước ngoài
3 số ở giũa là mã quốc gia, 2 số tiếp theo là số thứ tự
xe số 80 NG xxx-yy là biển cấp cho các đại sứ quán, thêm gạch đỏ ở giữa và 2 số cuối là 01 là biển xe của tổng lãnh sự (bất khả xâm phạm) riêng biển này khi thay xe thì giữ lại biển để lắp cho xe mới.

Màu trắng cấp cho tư nhân và doanh nghiệp, 2 số đầu theo thứ tự các tỉnh, 4 số cuối là số thứ tự cấp ngẫu nhiên nhưng có thể “xin” nếu thích số đẹp

Quy định biển số của 64 tỉnh thành:

11 - Cao Bằng
12 - Lạng Sơn
13 - Bắc Ninh và Bắc Giang (trước kia là tỉnh Hà Bắc, hiện đã bỏ nhưng còn một số xe cũ vẫn để biển này)
14 - Quảng Ninh
15,16 - Hải Phòng
17 - Thái Bình
18 - Nam Định
19 - Phú Thọ
20 - Thái Nguyên
21 - Yên Bái
22 - Tuyên Quang
23 - Hà Giang
24 - Lào Cai
25 - Lai Châu
26 - Sơn La
27 - Điện Biên
28 - Hòa Bình
29,30,31,32 - Hà Nội
33 - Hà Tây
34 - Hải Dương
35 - Ninh Bình
36 - Thanh Hóa
37 - Nghệ An
38 - Hà Tĩnh
43 - Đà Nẵng
47 - Đắc Lắc
48 - Đắc Nông
49 - Lâm Đồng
50 đến 59 - TP. Hồ Chí Minh
60 - Đồng Nai
61 - Bình Dương
62 - Long An
63 - Tiền Giang
64 - Vĩnh Long
65 - Cần Thơ
66 - Đồng Tháp
67 - An Giang
68 - Kiên Giang
69 - Cà Mau
70 - Tây Ninh
71 - Bến Tre
72 - Bà Rịa - Vũng Tàu
73 - Quảng Bình
74 - Quảng Trị
75 - Huế
76 - Quảng Ngãi
77 - Bình Định
78 - Phú Yên
79 - Khánh Hòa
80 - Các đơn vị kinh tế thuộc TW (hàng không)
81 - Gia Lai
82 - KonTum
83 - Sóc Trăng
84 - Trà Vinh
85 - Ninh Thuận
86 - Bình Thuận
88 - Vĩnh Phúc
89 - Hưng Yên
90 - Hà Nam
92 - Quảng Nam
93 - Bình Phước
94 - Bạc Liêu
95 - Hậu Giang
97 - Bắc Cạn
98 - Bắc Giang
99 - Bắc Ninh

Riêng tại Sài Gòn( TP.HCM)
  • A: Q.1 (cũ)
  • B: Q.3 (cũ)
  • C: Q.4 (cũ)
  • D: Q.10 (cũ)
  • E: Nhà Bè
  • T: Q1
  • F: Q3
  • Z: chẵn là Q4; lẻ là Q7
  • H: Q5
  • K: Q6
  • L: Q8
  • M: Q11
  • N: Bình Chánh
  • P: Tân Bình
  • R: Phú Nhuận
  • S: Bình Thạnh
  • U: Q10
  • V: Gò Vâp
  • X: Thủ Đức, Q2,Q9
  • Y: Q12, Hóc Môn và Củ Chi

2008/10/09

Cách quay số điện thoại bàn theo quy định mới

Tui mới đọc bài cách bấm số điện thoại cố định theo số mới trên vietnamnet.vn hay quá nên tổng hợp gọn lại.
Cụ thể là ở Việt Nam có tới 6 nhà cung cấp :

  • EVN : Công ty Thông tin Viễn Thông Điện Lực.
  • FPT : Công ty cổ phần phát triển đầu tư công nghệ FPT.
  • SPT : Công ty Cổ phần Dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn.
  • Viettel : Tổng Công ty Viễn Thông Quân đội.
  • VNPT : Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam.
  • VTC : Tổng công ty Truyền thông Đa phương tiện Việt Nam
Mỗi nhà cung cấp sẽ thêm vào các đầu số khác nhau.




































Nhà cung cấpĐầu số cũTiếp đầu số mới
EVN20, 21, 22, 23, 24, 46, 47, 48, 492
FPT(chưa có)7( chưa có)
SPT40, 41,42, 43, 44(mới chỉ có tại TP.HCM)5
Viettel25, 26, 27, 28, 29, 33 (tại 20 tỉnh)6
VNPT5, 6, 7, 8, 93
VTC454
Các bạn có thể tìm bài báo gốc tại đây.

2008/07/30

Torrent

HAI KIỂU CHIA SẺ TẬP TIN TRƯỚC ĐÂY
Để hiểu BitTorrent làm việc như thế nào và tại sao nó khác với các phương pháp truyền tập tin khác, đầu tiên chúng ta hãy tìm hiểu 2 phương pháp truyền tập tin trước đây:
Phương pháp chia sẻ theo kiểu khách - chủ (Client – Server)

Theo phương pháp này, khi muốn tải một tập tin về máy, bạn dùng trình duyệt để mở trang web và nhấn chuột vào liên kết download tập tin.
Khi đó trình duyệt sẽ yêu cầu máy chủ chứa tập tin bạn cần truyền tập tin đó về máy của bạn.
Việc truyền tập tin sau đó diễn ra theo các quy tắc định sẵn, còn gọi là giao thức (protocol), như FTP, HTTP.

  • Nhận xét: Tốc độ truyền phụ thuộc nhiều yếu tố: kiểu giao thức truyền, khả năngg đáp ứng của máy chủ, số lượng các máy khác cũng đang tải tập tin này về. Nếu tập tin vừa lớn vừa có tinh phổ biến thì sự phụ thuộc vào máy chủ rất lớn, việc tải về sẽ rất chậm.
Phương pháp chia sẻ tập tin theo kiểu ngang hàng peer-to-peer
Trong cách truyền tập tin này, bạn chạy một phần mềm chia sẻ tập tin cài trên máy để xác định những máy nào trên Internet có chứa tập tin bạn cần. Vì các máy có quyền chia sẻ dữ liệu như nhau nên gọi là ngang hàng. Việc thực hiện cụ thể như sau: Bạn chạy một phần mềm chia sẻ ngang hàng, ví dụ như BearShare trên máy của bạn và gửi ra ngoài yêu cầu tải tập tin bạn cần.
Để tìm ra tập tin này, phần mềm BearShare truy vấn các máy khác trên Internet cũng đang chạy phần mềm chia sẻ BearShare này. Khi phần mềm phát hiện ra trên Internet có một máy tính đang chứa tập tin bạn cần trong ổ cứng thì việc tải tập tin này về sẽ bắt đầu. Những người khác có dùng phần mềm chia sẻ ngang hàng có thể tải tập tin họ muốn từ ổ đĩa cứng trên máy của bạn, nếu bạn chia sẻ nó.
  • Nhận xét: Ưu điểm của phương pháp này là gánh nặng truyền tập tin sẽ được phân bổ giữa các máy đang trao đổi tập tin. Nhưng cũng có những nhược điểm là:
    • Khi máy tính của bạn truy vấn hàng ngàn máy tính khác để tìm tập tin cần tải về sẽ có thể làm nghẽn mạng.
    • Một số người tải tập tin về nhưng ngay lập tức ngắt kết nối không cho người khác thu được những tập tin từ máy của họ. Điều này hạn chế số lượng máy tính mà phần mềm có thể tìm kiếm để tải tập tin.
BitTorrent là một giao thức chia sẻ tài nguyên trên mạng đồng đẳng(peer to peer), đồng thời là tên của một chương trình chia sẻ tài nguyên đồng đẳng được phát triển bởi lập trình viên Bram Cohen. BitTorrent dùng để tải về những dữ liệu lớn mà không tốn chi phí máy chủ và băng thông mạng. CacheLogic ước đoán BitTorrent chiếm khoảng 35% lưu lượng trên mạng Internet trong khi một số nguồn khác cho rằng con số này không chính xác.

Chương trình BitTorrent nguyên thủy được viết bằng ngôn ngữ lập trình Python và mã nguồn của chương trình BitTorrent phiên bản 4.0 được phát phát hành dưới dạng mã nguồn mở tuân theo Bản quyền sử dụng mã nguồn BitTorrent. BitTorrent có rất nhiều biến thể khác nhau được viết bằng các ngôn ngữ lập trình khác nhau, chạy trên các hệ điều hành khác nhau.

BitTorrent hoạt động như thế nào?

BitTorrent giảm tải cho hạt giống bởi vì tài nguyên được tải về từ các người dùng khác nhau. Trong hình trên các thanh màu biểu thị các mảnh của tệp, sau khi các mảnh của tệp đã được phân phối từ máy gieo hạt đến các máy ngang hàng khác nhau trong mạng, thì các máy ngang hàng tự trao đổi các mảnh của tệp với nhau. Hình ảnh này cho thấy máy gieo hạt chỉ cần gửi một lần các mảnh của tệp cho tất cả các máy ngang hàng trong mạng và các máy ngang hàng tự bổ sung các mảnh còn thiếu của tệp cho nhau.
BitTorrent giảm tải cho hạt giống bởi vì tài nguyên được tải về từ các người dùng khác nhau. Trong hình trên các thanh màu biểu thị các mảnh của tệp, sau khi các mảnh của tệp đã được phân phối từ máy gieo hạt đến các máy ngang hàng khác nhau trong mạng, thì các máy ngang hàng tự trao đổi các mảnh của tệp với nhau. Hình ảnh này cho thấy máy gieo hạt chỉ cần gửi một lần các mảnh của tệp cho tất cả các máy ngang hàng trong mạng và các máy ngang hàng tự bổ sung các mảnh còn thiếu của tệp cho nhau.

Giao thức BitTorrent định nghĩa một phương thức để phổ biến và chia sẻ tệp trên mạng. Trước khi BitTorrent ra đời đã tồn tại các giao thức đồng đẳng (Peer-to-Peer, hoặc viết tắt là P2P) có khả năng cho phép một nhóm máy tính trên mạng chia sẻ tệp với các máy tính khác nhóm mà không cần phải sử dụng một máy chủ để làm kho lưu trữ trung tâm. BitTorrent là một cải tiến từ các giao thức đồng đẳng trước. Giao thức BitTorrent có một nguyên lý hoạt động chặt chẽ để có khả năng tùy biến, tin cậy và chi phí duy trì danh sách các máy vi tính chia sẻ tệp tốt hơn các giao thức đồng đẳng trước đó. Dogiao tiếp theo chuẩn TCP/IP nên giao thức BitTorrent có thể hoạt động trên đường truyền Internet thông thường.

BitTorrent client là một chương trình hoạt động theo giao thức BitTorrent. Mỗi BitTorrent client có khả năng so sánh, yêu cầu, và vận chuyển tệp trên mạng sử dụng giao thức BitTorrent. Tệp có thể chứa bất kỳ thông tin nào, bao gồm cả văn bản, âm thanh, phim và nội dung đã được mã hóa.

tracker
Máy theo dõi là một máy ngang hàng ghi lại nhật ký máy nào là máy gieo hạt, máy ngang hàng. Các máy ngang hàng báo cáo thông tin cho máy theo dõi định kỳ và nhận lấy thông tin về các máy ngang hàng mà nó có thể kết nối tới để tải về dữ liệu nó cần và tải lên dữ liệu nó có mà các máy khác yêu cầu. Máy theo dõi không chuyển dữ liệu giữa các máy và không có bản sao của tệp.
seed
Máy gieo hạt là máy ngang hàng có bản sao của tệp và đang tải lên tệp. Càng nhiều máy gieo hạt thì xác suất tải về tệp thành công càng cao và thời gian tải về càng nhanh.
leech
Diễn tả một máy ngang hàng có tỉ lệ chia sẻ nhỏ, tải về nhiều hơn tải lên. Hầu hết các máy ngang hàng gian lận dùng kết nối Interet không đối xứng, các máy ngang hàng này không chia sẻ tệp sau khi đã tải về tệp xong. Và có một vài máy ngang hàng không muốn cho tải lên dữ liệu bằng cách chỉnh giới hạn tải lên của chương trình BitTorrent.
superseed
Nếu máy trạm lần đầu tiên tải lên tệp thì nó có thể tốn rất nhiều thời gian vì gửi đi gửi lại một mảnh dữ liệu như nhau cho các máy trạm khác nhau kết nối với nó. Để ngăn ngừa trường hợp này, các chương trình BitTorrent có khả năng hỗ trợ tính năng siêu tải lên, khi đó chương trình BitTorrent sẽ cố gắng chỉ tải lên một lần duy nhất các mãnh dữ liệu, nó chỉ tải lên các mãnh dữ liệu trước đây chưa bao giờ gửi đi phân phối cho các máy ngang hàng khác nhau trong mạng.
torrent
Chỉ tệp .torrent hoặc tất cả các tệp miêu tả bởi nó. Tệp torrent chứa tất cả các tệp có thể tải về từ nó, gồm tên, kích thước tệp mà giá trị kiểm checksums của tất cả các mảnh dữ liệu, địa chỉ của máy chủ theo dõi vị trí của các máy trạm giữa các máy trong tập hợp máy trạm.
Cách download một file torrent ?
Dùng các software miễn phí sau uTorrent, Bitcomet, Ares, Bittorrent,Azureus . Trong đó nổi tiếng nhất là uTorrent.
Bạn hãy cài 1 trong các soft trên. Khi bạn đã download 1 file *.torrent, thì bạn cứ doubleClick lên nó, tự mở lên (giả sử là ) uTorrent.
Cái hay của torrent nữa, là bạn có thể dừng download giữa chừng rồi ngắt, lúc khác bạn lại load tiếp mà file không bị hư. Vì vậy, tôi hay để uTorrnet download nhiều file cùng lúc. Và để nó startup( khởi động cùng Win), và để nó thoải mái down, khi nào về shutdown. Cuối ngày check xem file nào down xong thì rút khỏi uTorrent. Vì nếu không, khi một file down xong, nó chỉ ở đó mà upload lên thôi, phí băng thông!
Lưu ý, là do bitTorrent là vừa down và up load, nên chỉ dùng cho ai xài cước trọn gói ! Nếu không thì cuối tháng nhìn bill của ISP rồi xỉu!
Cách tạo file Torrent bằng uTorrent
Mở chương trình uTorrent, chọn File -> Create New Torrent...
Bây giờ, hiện ra hộp thoại mới :
Tại ô Select source, bạn click nút AddFile, chọn file cần share( hay click nút AddDirectory để chọn folder cần share).
Tại ô Trackers, gõ vào tên máy máy chủ bạn muốn. Bạn có thể copy 1 trong các địa chỉ này :
http://tracker.prq.to/announce
http://inferno.demonoid.com:3389/announce
http://tracker.bt-chat.com/announce
http://tracker.zerotracker.com:2710/announce
Tại mục PieceSize, nên để mặc định. Không nên chọn PrivateTorrent, có thể sẽ không download được luôn đó.
Cuối cùng chọn nút Create and save as... để lưu file torrent của mình.
Bây giờ bạn chỉ cần share file .torrent này trên Internet.
Chúc các bạn thành công !

2008/07/27

Cloud computing - cách mạng điện toán giá rẻ nhờ Internet


Các xu hướng giảm chi phí đầu tư cho người dùng và doanh nghiệp như chuyển ứng dụng desktop lên web, điện toán theo nhu cầu, phần mềm dịch vụ SaaS... được gọi chung là điện toán máy chủ ảo (cloud computing).

Cloud computing là gì?

Để kiểm tra phản ứng nhanh nhạy của các ứng viên xin việc, Google chỉ cần đặt ra một câu hỏi tưởng chừng đơn giản: "Bạn sẽ làm gì nếu dữ liệu hiện có tăng gấp 1.000 lần?". Nếu người xin việc bê nguyên những công thức được "nhồi sọ" ở trường vào tình huống này, họ sẽ biến máy chủ thành những chú ốc sên khi nhân lượng video, ảnh, bản đồ, thông tin mua sắm... lên 1.000.

Bởi thế, để tìm được chỗ đứng ở Google, họ cần học cách làm việc và cả ước mơ ở một cấp độ rộng lớn hơn. Họ phải biết cách đưa khối lượng dữ liệu khổng lồ đó thoát khỏi phạm vi những trung tâm dữ liệu chật chội và đặt chúng ở đâu đó ngoài kia - nơi mà các chuyên gia của Google gọi là "cloud" - những đám mây ảo.

Thuật ngữ "cloud computing" ra đời giữa năm 2007 không phải để nói về một trào lưu mới, mà để khái quát lại các hướng đi của cơ sở hạ tầng thông tin vốn đã và đang diễn ra từ mấy năm qua. Quan niệm này có thể được diễn giải một cách đơn giản: các nguồn điện toán khổng lồ như phần mềm, dịch vụ... sẽ nằm tại các máy chủ ảo (đám mây) trên Internet thay vì trong máy tính gia đình và văn phòng (trên mặt đất) để mọi người kết nối và sử dụng mỗi khi họ cần.

Như vậy, cloud computing chỉ là khái niệm hoàn chỉnh cho một xu hướng không mới bởi nhiều doanh nghiệp hiện không có máy chủ riêng, PC chỉ cài một số phần mềm cơ bản còn tất cả đều phụ thuộc vào cloud. Chẳng hạn, họ đăng ký dịch vụ hosting cho website công ty, thuê công cụ quản lý doanh thu từ Salesforce.com, lấy dữ liệu khảo sát thị trường từ tổ chức Survey Monkey... Và tất nhiên, họ dùng Google để tìm kiếm, phân tích, chia sẻ và lưu trữ tài liệu.

Với các dịch vụ sẵn có trên Internet, doanh nghiệp không phải mua và duy trì hàng trăm, thậm chí hàng nghìn máy tính cũng như phần mềm. Họ chỉ cần tập trung sản xuất bởi đã có người khác lo cơ sở hạ tầng và công nghệ thay họ. Google, theo lẽ tự nhiên, nằm trong số những hãng ủng hộ điện toán máy chủ ảo tích cực nhất bởi hoạt động kinh doanh của họ dựa trên việc phân phối các cloud (virtual server).

Tuy nhiên, mặt hạn chế là người dùng sẽ bị phụ thuộc vào công nghệ mà nhà cung cấp đưa ra cho họ, khiến cho sự linh hoạt và sáng tạo giảm đi. Cloud computing có nguy cơ lặp lại khiếm khuyết của mô hình điện toán cũ: các công ty sở hữu những hệ thống máy tính trung ương lớn (cloud) và mọi người sẽ kết nối với chúng qua các trạm. Người sử dụng cảm thấy bức bối vì chỉ có quyền thực hiện những việc trong phạm vi nhà quản trị cho phép nên không thể bắt kịp cải tiến mới nhất. Trước tình hình đó, máy tính cá nhân ra đời và phát triển như là cuộc "phản kháng" đối với sự độc tài của mô hình điện toán trung tâm (nổi tiếng nhất là IBM mainframe).

Nhưng điện toán "đám mây" hiện mở hơn rất nhiều và quan trọng hơn, đây là giải pháp giá rẻ của các doanh nghiệp cũng như sự lựa chọn hàng đầu cho những ai thường xuyên phải đi xa nhưng không có laptop riêng. Ngay cả những hãng có năng lực tài chính cũng đánh giá cao xu hướng này, như Coca-Cola gần đây đã ký thỏa thuận đưa tất cả tài khoản e-mail của họ (khoảng 75.000) lên dịch vụ trực tuyến Microsoft Exchange Online.

Các nhánh của cloud computing

Phần mềm hoạt động như dịch vụ (SaaS - Software as a Service)

Với loại cloud computing này, một phần mềm sẽ được phân phối qua trình duyệt tới hàng nghìn khách hàng. Về phía người sử dụng, SaaS đồng nghĩa với việc họ không cần đầu tư tiền bạc cho máy chủ và bản quyền phần mềm. Còn đối với nhà cung cấp, ví dụ như Salesforce.com, họ chỉ phải duy trì một ứng dụng chung cho nhiều đơn vị nên chi phí rẻ hơn so với kiểu hosting truyền thống.

Điện toán theo yêu cầu (Utility Computing)

Hình thức kinh doanh đã xuất hiện từ lâu này đang được thổi một luồng gió mới từ Amazon.com, Sun, IBM và một số công ty cung cấp kho lưu và máy chủ ảo theo nhu cầu khác. Hiện đa số doanh nghiệp coi utility computing như một giải pháp bổ sung, phục vụ những công việc không mang tính trọng tâm. Nhưng về lâu dài nó sẽ thay thế một phần trung tâm cơ sở dữ liệu.

Dịch vụ web (Web service)

Liên quan mật thiết đến SaaS, web service cung cấp giao diện lập trình ứng dụng (API - Application Programming Interface), như API của Google Maps, qua Internet để các chuyên gia phát triển phần mềm có thể khai thác tính năng.

Nền tảng như một dịch vụ (PaaS - Platform as a Service)

Đây cũng là một biến thể của SaaS nhưng mô hình cloud computing này mang đến môi trường phát triển như một dịch vụ: bạn xây dựng ứng dụng chạy trên cơ sở hạ tầng của nhà cung cấp và phân phối tới người dùng qua máy chủ của nhà cung cấp đó. Bạn sẽ không hoàn toàn được tự do bởi bị ràng buộc về thiết kế và và công nghệ. Một số ví dụ điển hình về PaaS là Force.com của Salesforce.com, Google App Engine, Yahoo Pipes…

Dịch vụ quản lý (MSP - Managed Service Provider)

MSP - hình thức cloud computing lâu đời nhất - là ứng dụng chủ yếu dành cho giới chuyên môn hơn là người dùng đầu cuối, chẳng hạn dịch vụ quét virus cho e-mail hay chương trình quản lý desktop. Một số nhà cung cấp nổi tiếng là SecureWorks, IBM, Verizon và Everdream.

Điện toán tích hợp (Internet integration)

Quá trình kết hợp các "đám mây" xuất hiện trên Internet mới đang ở giai đoạn đầu. Nhà cung cấp SaaS Workday gần đây đã sáp nhập vào một công ty khác trong cùng lĩnh vực này là CapeClear. Mục tiêu của họ cũng giống hãng Grand Central là trở thành cổng kết nối các cloud nhằm mang đến những giải pháp tích hợp cho khách hàng.

Với mô hình cuối cùng này, điện toán cloud computing về sau sẽ được mô tả như là sky computing: Internet giống như bầu trời chứa nhiều đám mây dịch vụ riêng lẻ cho khách hàng dễ dàng kết nối.

(by VNExpress)

2007/09/14

Những cái Linux làm được mà Window không thể

Hôm nay, mình coi được 1 bài trên site adminviet.net do member hocmang post. Mình rất tâm đắc nên "lượm lặt" thêm thôi.
Nếu bạn là 1 người dùng Window có bản quyền thực thụ thì có lẽ bạn sẽ thấy việc nâng cấp lên 1 lần tốn hàng trăm USD đáng là 1 việc đáng cân nhắc(hiện tại 1USD = 16.200VND). Nhưng tại VN hay fần lớn các nước châu Á khác fần nhiều sái bản crack, thì có le không cảm nhận được sự fiền fức này. Giá 1 đĩa CD Window có 6000 VND, còn 1 bộ Redhat tới 6 CD thì còn tốn kém hơn nhìu ! Có nhìu người nói là sài Window rẻ hơn Linux nữa đó chứ ! Một lí do khác có lẽ quan trọng hơn là thói quen sử dụng các sản phẩm của Microsoft đã "thấm vào máu" chúng ta. Hầu hết, trên các kệ sách tin học phổ thông, tin học căn bản, tin học văn phòng chúng ta đều thấy chỉ độc tôn các phần mềm dùng cho Window và hệ điều hành của nó.Ngay cả trong sách giáo khoa cũng ít nói đến các phần mềm mã nguồn mở (sách Tin học học 10, chỉ hướng dẫn sài MS Word và InternetExplorer ). Từ đó, vô tình chúng ta quảng cáo cho Microsoft hay các phần mềm trên Window, mã nguồn mở chưa được sự wan tâm đúng của chính phủ quốc gia. Nhưng do cộng đồng Linux trên thế giới đã fát triển đông đảo, nên các hỗ trợ cho Linux đã fát triển với tốc độ rất nhanh. Và sau đây tui xin nêu các ưu điểm của Linux :
1.Nâng cấp các phần mềm một cách đơn giản.
Trong Window chúng ta có WindowUpdate, nhưng nó chỉ hỗ trợ cho Office và Win thôi, còn các software khác có các cách update khác nhau. Trong Linux chúng ta có trình PackagesManager júp update toàn bộ hay một software. Hay ta có thể thao tác bằng dòng lệnh( lệnh dpkg). Cái này wan trọng trong việc cập nhật các lỗi, đặc biệt là bảo mật.
2.Nâng cấp hay cài đặt không yêu cầu fải khởi động lại.
Nếu dùng các soft trong Win, thì bạn hẳn đã gặp câu thông báo đại loại như : "Bạn fải khởi động lại, để có được hiệu ứng mới cập nhật". Và bạn đã rất fiền fức. Nhưng trong Linux không yêu cầu bạn như vậy, bạn có hể dùng sau khi cập nhật, chỉ trừ khi bạn nâng cấp kernel(kernel là nhân hệ điều hành, việc này chắc không fải ai cũng làm cả !).
3.Bạn là một ngừòi sử dụng hợp pháp.
Ở VN thì ngay cả các cơ quan quốc gia cũng sài phần mềm lậu nữa huống chi "thảo dân" như chúng ta. Nhưng bạn có biết là một số software dành cho server có tri giá đến vài vạn USD là bình thường. Còn với Linux bạn luôn có cơ hội sử dung miễn phí các software và được cung cấp các bản cập nhật mới từ cộng đồng.
4.Dùng cùng cấu hình hệ thống ở mọi nơi.
Do các software trong Window đều lưu những thành phần cấu hình trong Registry hay DocumentSetting, nên bạn không thể "vác" các định dạng cấu hình này sang 1 máy khác. Còn trong Linux, tất cả các cấu hình cá nhân được lưu trong thư mục Home, và những thư mục này bắt đầu bằng dấu chấm( như .gaim chẳng hạn). Bạn có thể copy nó và save wa các máy khác, zậy là bạn đã có được những thiết lập wen thuộc của mình.
5.Chạy Internet Explorer 5.0, 5.5, 6.0 và 7.0 trên cùng một desktop.
Bạn có thể làm như vậy nhờ vào phần mềm IEs4Linux. Bạn còn có thể chạy chúng kề bên nhau nếu muốn. Với những người viết Web, điều này vô cùng hữu ích trong việc kiểm tra tính tương thích giữa các trình duyệt khi chạy 1 website. Để làm được điều này trong Windows phải cần đến nhiều máy tính khác nhau, hoặc những thứ như VMWare (k0 dễ cài đặt, và nhiều hay ít phụ thuộc vào cấu hình máy). Hơn nữa, khi chạy IE trong Linux, bạn k0 phải lo sợ virus hay phần mềm phá hoại xâm nhập vào máy.
6.Biết được vấn đề và cách khắc phục.
Vì các chương trình trong Window khi phân phối đều ở dạng file .exe( dạng nhị phân) nên bạn không thể nào nhìn vào cơ cấu của nó được, nên khi bị lỗi thì chỉ hiển thị thông báo lỗi do người lập trình đưa ra. Trong Linux các software được fân fối dạng mã nguồn mở, nên nếu c1 thể bạn sẽ tìm ra chỗ bị lỗi và sửa nó, sau đó bạn sẽ post 1 bài lên chia sẻ cho mọi người. Hay bạn có thể copy đoạn báo lỗi đó(trong System Log) paste vào Google để tìm cách khắc phục lỗi mà những người khác đã gặp và sửa được.
7.Tha hồ chỉnh sửa mọi thành phần trong Linux.
Trong Window, cho fép bạn thay đổi các giao diện như skin, theme, pointer...nhưng những thứ đó chỉ là bề nổi, chúng ta chỉ có thể thay đổi các thành fần mà Microsoft cho fép thôi. Do toàn bộ Linux được fân fối bằng mã nguồn mờ, nên mọi người có thể vào đó chỉnh sửa mọi thứ trong Linux, từ theme, screenshot hay các icon...nên nó tạo ra sự đa dạng cho Linux, với rất nhiều phiên bản distro khác nhau.
8.Dùng hàng vạn software chỉ có trên Linux.
Điều này thật khó tưởng tượng cách đây 5-6 năm trước, nhưng hiện nay các software dùng cho Linux đã có rất nhiều rồi. Và các software miễn fí này có các tính năng không thua gì các software có thu fí như OpenOffice(bộ phần mềm văn phòng), Gaim( dùng để chat với nhiều nick, với 9 chưong trình chat), StarDict( từ điển đa ngôn ngữ),Bluefish (trình soạn thảo dành cho dân lập trình và viết Web), Neverball, Gnumeric, K3B, Beryl, gdesklets and MythTV ... nếu không muốn nói là mạnh hơn.
Cuối cùng tui hi vọng bạn hãy thử sài Linux( như Ubuntu) 1 lần, và 1 chút thời gian mỗi ngày để khám phá một thế giới mới. Như vậy là bạn đã góp fần mở rộng cộng đồng mã nguồn mở ròi đó, điều này sẽ júp cho bạn sau này, khi đó bạn và mọi người sẽ có nhiều software để sử dụng hơn tốt hơn.

2007/08/23

7 kì quan thế giới IT - The 7 wonders of IT world

Thế giới vừa tìm ra 7 Kỳ quan mới, nhưng sẽ thật là thiếu sót nếu bỏ qua máy tính, thứ công nghệ đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống của nhân loại. Tạp chí PC Mag vừa bình chọn ra 7 kỳ quan riêng của thế giới hi-tech.

1. Định luật Moore

Một định luật khiến cho guồng quay của thế giới công nghệ không bao giờ ngừng lại. Năm này qua năm khác, nhờ sự thông thái của Gordon Moore, tốc độ của vi xử lý lại tăng gấp đôi (dù trên thực tế, số lượng transistor trên một bảng silicon tăng gấp đôi thì đúng hơn) cứ sau mỗi 24 tháng.

Đây là một thực tế mà tất cả mọi người, từ người lớn đến trẻ nhỏ đều nên biết và ghi nhận.

2. Nintendo Wii

Nhỏ cỡ cuốn sổ, nhưng chiếc máy chơi game giản đơn với công nghệ điều khiển bằng chuyển động đầy sáng tạo này đang làm mưa làm gió trên toàn thế giới. Doanh số tiêu thụ của Wii bỏ xa đối thủ PlayStation 3 của Sony tới 5 lần và chưa hề có dấu hiệu chững lại.

Người chơi được đắm mình trong một thế giới sống động như thật, những trò chơi nhẹ nhàng, dễ chơi nhưng lại hết sức cuốn hút và đầy say mê. Đó là lý do vì sao bao nhiêu máy sản xuất ra cũng không đủ cung ứng cho thị trường.

3. Apple iPhone

Con dế mới ra mắt của Apple đã giành mất vị trí của iPod trong bảng xếp hạng Kỳ quan thế giới hi-tech. Thiết bị con lai giữa điện thoại với máy nghe nhạc số này mang đến cho bạn những tính năng thời thượng, tân tiến và sành điệu nhất hiện nay, từ màn hình cảm ứng cho đến xem video và chơi game chất lượng cao.

Cho tới nay, chưa mẫu dế nào đạt được kích cỡ và chất lượng màn hình "long lanh" như iPhone, và đây chính là yếu tố quan trọng giúp iPhone đạt đến biểu tượng "kỳ quan".

4. Apple Inc

Một công ty công nghệ không bao giờ đứng lẫn với các đối thủ. Apple luôn có những sản phẩm riêng không giống ai, nhưng đáng kể nhất phải là khả năng tạo ra cơn sốt, sự đồn thổi, sự hoang tưởng chưa từng có cho những sản phẩm ấy.

Đôi khi người ta phải tự hỏi từ đâu mà Steve Jobs (Giám đốc điều hành Apple) lại nảy ra được những ý tưởng tuyệt vời như mơ ấy?

5. Máy tính bề mặt của Microsoft

Lấp lánh và choáng ngợp chẳng kém gì con dế cảm biến iPhone của Apple, "Máy tính bề mặt" của Microsoft có kích cỡ ngang bằng với một chiếc bàn cà phê.

Đặt một máy ảnh số lên nó và bạn ngỡ ngàng nhận ra hình ảnh đang "hành quân" từ máy lên bề mặt máy tính mà bạn chẳng cần động đậy tay chân. Sau đó, bạn và mọi người có thể kéo ảnh đi khắp bàn, xoay, thu nhỏ, phóng to các kiểu... chỉ bằng cử động của đầu ngón tay.

Tương tự, bạn cũng có thể "nghịch ngợm" với các file nhạc số và định dạng tài liệu khác. Quả là một sản phẩm mang đầy tính sáng tạo mà lâu lắm rồi, người ta mới bắt gặp ở "ông già cằn cỗi Microsoft".

6. Tia laser

Chúng có mặt trong con chuột máy tính, trong các quầy tính tiền, trong robot, trong ổ đĩa quang, trong vô số những thiết bị quen thuộc với cuộc sống hàng ngày của bạn.

Chúng xuất hiện như những dải cầu vồng và làm nên những điều phi thường. Chúng mang đến cho bạn nhạc số và video chất lượng cao. Ai biết được trong tương lai sẽ còn những ứng dụng kỳ diệu nào nữa?

7. Màn hình phẳng - LCD

Màn hình phẳng đã trở nên quá phổ biến tại thời điểm hiện nay, đến mức người ta quên mất sự đột phá và kỳ diệu mà công nghệ này tạo ra cách đây vài năm. Chúng đã giúp con người tiết kiệm được hàng triệu mét khối không gian và đẩy màn hình cong tới chỗ diệt vong.

Chúng đã mở ra cả một kỷ nguyên mới của điện toán cảm ứng và tablet. Giờ đây, màn hình phẳng đang bước lên một tầng cao mới, sử dụng công nghệ đèn LED sáng hơn, sắc nét hơn. Với những mẫu ti vi HDTV 1080p, thật khó hiểu vì sao chúng ta lại có thể chịu đựng vô tuyến CRT lâu đến thế.


2007/07/22

Lịch sử Unix, Linux và phần mềm mã nguồn mở-miễn phí

1. Unix

Giữa năm 1969 - 1970, Kenneth Thompson, Dennis Ritchie và những người khác của phòng thí nghiệm AT&T Bell Labs bắt đầu phát triển một hệ điều hành nhỏ dựa trên PDP-7. Hệ điều hành này sớm mang tên Unix, một sự chơi chữ từ một dự án hệ điều hành có từ trước đó mang tên MULTICS. Vào khoảng 1972 - 1973, hệ thống được viết lại bằng ngôn ngữ C và thông qua quyết định này, Unix đã trở thành hệ điều hành được sử dụng rộng rãi nhất có thể chuyển đổi được và không cần phần cứng ban đầu cho nó. Các cải tiến khác cũng được thêm vào Unix trong một phần của sự thoả thuận giữa AT&T Bell Labs và cộng đồng các trường đại học và học viện. Vào năm 1979, phiên bản thứ 7 của Unix được phát hành, đó chính là hệ điều hành gốc cho tất cả các hệ thống Unix có hiện nay.

Sau thời điểm đó, lịch sử Unix bắt đầu trở nên hơi phức tạp. Cộng đồng các trường đại học và học viện, đứng đầu là Berkeley, phát triển một nhánh khác gọi là Berkeley Software Distribution (BSD), trong khi AT&T tiếp tục phát triển Unix dưới tên gọi là “Hệ thống III” và sau đó là “Hệ thống V”. Vào những năm cuối của thập kỷ 1980 cho đến các năm đầu thập kỷ 1990, một “cuộc chiến tranh” giữa hai hệ thống chính này đã diễn ra hết sức căng thẳng. Sau nhiều năm, mỗi hệ thống đi theo những đặc điểm khác nhau. Trong thị trường thương mại, “Hệ thống V” đã giành thắng lợi (có hầu hết các giao tiếp theo một chuẩn thông dụng) và nhiều nhà cung cấp phần cứng đã chuyển sang “Hệ thống V” của AT&T. Tuy nhiên, “Hệ thống V” cuối cùng đã kết hợp các cải tiến BSD, và kết quả là hệ thống đã trở thành sự pha trộn của 2 nhánh Unix. Nhánh BSD không chết, thay vào đó, nó đã được sử dụng rộng rãi trong mục đích nghiên cứu, cho các phần cứng PC, và cho các server đơn mục đích (vd: nhiều website sử dụng một nguồn BSD).

Kết quả là có nhiều phiên bản Unix khác nhau, nhưng tất cả đều dựa trên phiên bản thứ bảy ban đầu. Hầu hết các phiên bản Unix đều thuộc quyền sở hữu và được bảo vệ bởi từng nhà cung cấp phần cứng tương ứng, ví dụ Sun Solaris là một phiên bản của “Hệ thống V”. Ba phiên bản của BSD của nhánh Unix cuối cùng đã trở thành mã nguồn mở: FreeBSD (tập trung vào sự cài đặt dễ dàng trên phần cứng của dòng máy PC), NetBSD (tập trung vào nhiều kiến trúc CPU khác nhau) và một bản khác của NetBSD, OpenBSD (tập trung vào bảo mật).

2. Tổ chức phần mềm miễn phí (Free Software Foundation)

Vào năm 1984, Tổ chức phần mềm miễn phí (FSF) của Richard Stallman bắt đầu dự án GNU, một dự án tạo ra một phiên bản miễn phí của hệ điều hành Unix. Miễn phí, theo Richard Stallman nghĩa là tự do sử dụng, đọc, chỉnh sửa và phân phối lại. FSF đã thành công trong việc xây dựng một lượng khổng lồ các thành phần hữu ích, bao gồm một trình biên dịch C (gcc), một trình hiệu chỉnh văn bản khá ấn tượng (emacs) và một loạt các công cụ cơ bản. Tuy nhiên, vào những năm 1990, FSF đã gặp khó khăn trong việc phát triển kernel hệ điều hành [FSF 1998] mà nếu không có kernel này thì giấc mơ hoàn thành một hệ điều hành miễn phí của họ sẽ không thể hoàn tất.

3. Linux

Vào năm 1991, Linus Tovalds bắt đầu phát triển một kernel hệ điều hành, lấy tên của anh ta “Linux” [Tovalds 1999]. Kernel này có thể kết hợp với các tài liệu của FSF và các thành phần khác (cụ thể là một vài thành phần của BSD và phần mềm MIT của X-Windows) để có thể giới thiệu một hệ điều hành vô cùng hữu ích và có thể tự do chỉnh sửa.

Trong cộng đồng Linux, nhiều tổ chức khác nhau đã kết hợp các thành phần khác có sẵn. Mỗi một sự kết hợp đó được gọi là một bản phân phối (distribution) và các tổ chức phát triển các bản phân phối đó gọi là các nhà phân phối (distributors). Các bản phân phối thông dụng gồm có Linux Red Hat, Mandrake, SuSE, Caldera, Corel và Debian. Có những sự khác nhau giữa các bản phân phối đó, nhưng tất cả các bản phân phối đó đều dựa trên cùng nền tảng: kernel của Linux và các thư viện của GNU. Cả hai thứ đã kết hợp lại tạo thành một giấy phép kiểu “copyleft”, thay đổi những nền tảng cơ bản này phải được làm sẵn cho tất cả, một sự bắt buộc thống nhất giữa các bản phân phối Linux mà điều này không hề có trên BSD và các hệ thống Unix kế thừa từ AT&T.

4. Phần mềm miễn phí / Phần mềm mã nguồn mở

Sự quan tâm đến các phần mềm miễn phí được chia sẻ ngày càng tăng đã làm tăng sự cần thiết phải chỉnh sửa nó. Điều kiện được sử dụng rộng rãi là “Phần mềm mã nguồn mở” đã được định nghĩa trước đó. Phần mềm mã nguồn mở là những phần mềm được sử dụng mà mã nguồn được cung cấp nhưng không có sự giới hạn về bản quyền: người dùng có quyền sử dụng, xem, sửa đổi hay phân phối mã nguồn. Nó khác với những điều kiện của “Phần mềm miễn phí”. Phần mềm miễn phí thường gây rắc rối với những chương trình chỉ thực thi theo cách cho trước và không thay đổi được, cũng như mã nguồn không được xem, không được chỉnh sửa cũng như không được phân phối. Các bạn có thể đọc thêm về định nghĩa phần mềm miễn phí ở http://www.opensource.org/osd.html

Richard Stallmann, người đi tiên phong trong việc chống lại sự sở hữu phần mềm “làm của riêng” đã đưa khái niệm này ra trong dự án GNU hồi năm 1984. Theo Richard Stallmann một Free software phải đem đến cho người sử dụng các quyền tự do sau đây:

+ Quyền tự do 1: Tự do chạy chương trình vì bất kỳ lý do gì.

+ Quyền tự do 2: Tự do nghiên cứu chương trình làm việc như thế nào, được phép sửa đổi cho phù hợp với nhu cầu của người dùng cụ thể. Mã nguồn mở là điều kiện tiên quyết cho quyền tự do này

+ Quyền tự do 3: Tự do phân phối các bản sao để giúp đỡ những người khác có nhu cầu.

+ Quyền tự do 4: Tự do cải tiến chương trình và đưa sự cải tiến này ra cho cộng đồng cùng hưởng lợi. Đương nhiên, mã nguồn mở là điều kiện tiên quyết. Stallmann và những người ủng hộ đã dùng Free software để đối lập với proprietary software (phần mềm sở hữu riêng). Phần mềm sở hữu riêng cấm đoán người khác chỉnh sửa và phân phối lại, nó là tài sản và là bí mật riêng của cá nhân, công ty, tổ chức.

Tuy nhiên Free software không nhất thiết phải là Freeware, nghĩa là không nhất thiết phải miễn phí. Stallmann nhắc đi nhắc lại ”free” trong từ “free software” không phải là không tốn tiền mà là có tự do (“free as in free speech not as in free bear”), đặc biệt là quyền được thay đổi và đóng góp cho cộng đồng qua việc có thể nắm được mã nguồn của chương trình.

Vì vậy, tính chất mã nguồn mở của chúng (open source) là khác biệt rất quan trọng với phần mềm đóng (close source), cho dù phần mềm đóng có miễn phí hay không.

Tất nhiên, phần mềm mã nguồn mở luôn rẻ hơn phần mềm đóng vì việc chỉnh sửa sẽ ít tốn công sức hơn việc tạo mới từ đầu. Một khía cạnh khác của mã nguồn mở là tính an ninh trong sử dụng.

Phần mềm mã nguồn mở mà điển hình là Linux với các bản phân phối thương mại như Red Hat là một ví dụ chứng minh cho tư tưởng free software và tính khả thi của tư tưởng này.

Đáng buồn là ở nước ta, khi nghĩ đến …WARE thì đại đa số người dùng đồng nghĩa hóa nó với “xài chùa”. Phần mềm tự do, cụ thể là những phần mềm mã nguồn mở là lối thoát hầu như duy nhất cho một đất nước đang phát triển. Là đối trọng đáng kể cho những phần mềm thương mại của các đại gia phải biết điều (Microsoft đã phải hạ giá bán, phải công bố một số mã nguồn trước áp lực của free software).